• American
  • Tiếng Việt
  • Loading...

    Tổng tiền:

    Loading...
    Loading...

    Tin tức

    Danh sách tin tức

    CÁC TÁC NHÂN GÂY UNG THƯ

    CÁC TÁC NHÂN GÂY UNG THƯ

    02/12/2024 11:04:55
    356
    Ngày nay, người ta đã biết nhiều loại ung thư gây ra do yếu tố môi trường bao gồm tác nhân vật lý, hoá học, sinh học. Chúng tác động từ ngoài vào sinh ung thư. I. TÁC NHÂN VẬT LÝ Chủ yếu là bức xạ ion hoá và tia cực tím. 1.1 Bức xạ ion hoá. Nguồn tiếp xúc tia phóng xạ tự nhiên chủ yếu từ các tia vũ trụ, đất hoặc các  vật liệu xây dựng. Nguồn tiếp xúc phóng xạ nhân tạo chủ yếu là trong chẩn đoán y khoa. Tỷ lệ tất cả do tia phóng xạ rất thấp (khoảng 2%- 3%). Các bằng chứng dịch tể học. Các nhà Xquang đầu tiên đã không tự che chắn nên thường bị ung thư da và bệnh bạch cầu. Ung thư tuyến giáp gia tăng rõ ở những người điều trị tia xạ vào vùng cổ lúc con trẻ. Ngày nay người ta thấy rằng bệnh phổi ở các thợ mỏ vùng Joachimstal (Tiệp khắc) và Schneeberg (Đức) quan sát được từ thế kỷ 16, chính là ung thư phổi do sự hiện diện của quặng đen có tính phóng xạ trong các mỏ. Nguy cơ ung thư phổi tăng cao trong các nghiên cứu về thợ mỏ Uranium va thợ mỏ đá cứng dưới lòng đất phải tiếp xúc với khí radon vì lý do nghề nghiệp. Nghiên cứu những người sống sót trong vụ nổ bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản năm 1945 đã cho thấy tăng nguy cơ của nhiều loại ung thư đặc biệt là ung thư máu thể tuỷ. Sau 10 năm sự cố rò rỉ tia phóng xạ Chernobyl 1986, người ta nhận thấy tỷ lệ ung thư gia tăng mạnh, trong đó đặc biệt là trẻ em bị ung htư tuyến giáp tăng gắp 10 lần. Quá trình phóng xạ đã bắn ra các hạt ion hóa các thành phần hữu cơ của tế bào tạo ra các gốc tự do. Chính các gốc tự do này tác động lên các base của AND làm rối loạn các gen tế bào tạo ra các biến dị và đột biến gây ung thư, quái thai và dị tật. Tác động của tia phóng xạ gây ung thư ở người phụ thuộc vào ba yếu tố quan trọng: Tuổi tiếp xúc càng nhỏ càng nguy hiểm nhất là bào thai và trẻ nhỏ. Mối liên hệ và liều đáp ứng: phơi nhiễm càng cao và càng kéo dài thì nguy cơ càng tăng. Cơ quan bị chiếu xạ: các cơ quan như tuyến giáp, tuỷ xương rất nhạy cảm với tia xạ. 1.2 Bức xạ cực tím Tia cực tím có trong ánh sáng mặt trời có ba loại A, B, và C gây ra bỏng da, ung thư da, loét giác mạc và đục thuỷ tinh thể. Càng gần xích đạo tia cực tim cang mạnh. Tia C gây đột biến mạnh nhất nhưng được lọc bởi tầng ozon. Tia B kích thích tế bào da tạo ra sắc táo melanin lam rám nắng và đỏ da và tác động trực tiếp lên AND làm lớp da lão hoá sớm và tế bào bị biến đổi thành ung thư. Tia A do bước sóng dài nên ít gây ung thư hơn. Các bằng chứng dịch tể học cho thấy những người làm việc ngoài trời thường có tỷ lệ ung thư tế bào đáy và tế bào vảy của da khu trú ở vùng đầu, cổ cao hơn những người làm việc trong nhà. Đối với những người da trắng sống ở vùng nhiệt đới tỷ lệ ung thư hắc tố cao hơn hẳn người da màu. Cần phải lưu ý trào lưu tắm nắng thái quá của người da trắng gây bỏng nắng và tăng nguy cơ ung thư da. Hiện nay tầng ozon ngày càng mỏng đi do ngày càng có nhiều chất thải độc hại từ mặt đất, sự phun của núi lửa làm huỷ hoại tầng ozon đã làm tăng cả cường độ lẫn biên độ tiếp xúc với tia cực tím. Kết quả dự báo sẽ tăng tầng suất mới mắc của ung thư da cũng như một số bệnh khác trong tương lai. II. TÁC NHÂN HOÁ HỌC 1.1 Thuốc lá. Vai trò gây bệnh của hút thuốc đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu. Hút thuốc đại diện cho hầu hết các nguyên nhân chính gây bệnh đã được phát hiện trong lịch sử của nghiên cứu ngành y sinh học. Một nửa trong số những người thường xuyên hút thuốc cuối cùng sẽ chết do thói quen hút thuốc của họ. Hút một điếu thuốc đã làm mất đi 5,5 phút cuộc sống của chính mình. Tuổi thọ trung bình của người hút thuốc ngắn hốn với người không hút thuốc từ 5-8 năm. Hơn nữa, bố mẹ hút thuốc có thể gây hại cho thai nhi và những trẻ sống trong gia đình họ. Các nghiên cứu dịch tể học đã chứng minh rằng những người hút thuốc lá có nguy cơ mắc các ung thư phổi, thanh quản, khoang miệng, thực quản và bàng quang. Những ung thư nay ít gập ở những người không hút thuốc lá. Quan sát cũng nhận thấy một số ung thư khác cũng gia tăng ở những người hút thuốc lá như: ung thư tụy, thận, mũi họng, dạ dày và ung thư máu. Thành phần của khói thuốc lá có trên 4.000 hoá chất, trong đó có hơn 200 loại gây hại cho sức khoẻ và 43 chất gây ung thư đã được nhận biết. Các chất này chủ yếu là: Các hydrocarbon thơm đa vòng: được tạo ra do đốt cháy thuốc lá không hoàn toàn hay trong khói và bụi công nghiệp. Nitrosamine: là chất gây ung thư mạnh nhất ở động vật thí nghiệm và có vai trò chủ yếu trong ung thư phổi, thực quản, tụy, miệng khi hút thuốc lá. Hydrocarbon dị vòng: có trong nhựa thuốc lá là những chất gây biến dị mạnh và sinh ung thư ở nhiều cơ quan khác nhau như gan, phổi… Benzene Polonium-226 có hoạt tính phóng xạ. 2.1 Chế độ ăn và các chất gây ô nhiễm thực phẩm Người ta nhận thấy có sự khác nhau giữa tỷ lệ ung thư đường tiêu hoá theo vùng địa lý và thói quen ăn uống. những thay đổi nhanh chóng về tỷ lệ ung thư dạ dày (giảm) và tỷ lệ ung thư đại tràng ( tăng ) ở thế hệ người nhật đầu tiên di cư sang Mỹ là bằng chứng rõ ràng rằng những thay đổi môi trường và chế đạo ăn uống làm thay đổi nguy cơ của các loại ung thư này. Lạm dụng rượu có thể gây ung thư: nghiện rượu liên quan đên ung thư vùng miệng, họng, thanh quản, thực quản và gan. Càng tiêu thụ nhiều rượu thì nguy cơ càng cao và ngược lại. Chất béo và thịt: các nghiên cứu cho thấy với chế độ ăn uống giàu chất béo động vật làm tăng nguy cơ ung thư vú và ung thư đại tràng. Ở những nước phát triển, nơi tiêu thụ nhiều thịt người ta thấy tỷ lệ ung thư đại tràng cao có y nghĩa. Ngược lại, chế độ ăn nhiều trái cây xanh và rau xanh, quả chín và nhiều sợi thực vật cho thấy làm giảm tỷ lệ ung thư đại trực tràng. Tỷ lệ một số loại ung thư khác như hạ họng thanh quản, thự quản, phổi, vú cũng giảm nhẹ. Những chất gây ô nhiễm và chất phụ gia trong thực phẩm: thịt cá hong khói và ướp muối, các loại mắm và dưa muối có rất nhiều muối nitrat và nitrit. Nitrat, nitrit và nitrosamin làm tăng nguy cơ ung thư thực quản và dạ dày. Nitrosamin là chất gây ung thư khá mạnh trên thực nghiệm. ngày nay ở các nước phát triển nhờ các tiến bộ về bảo quản thực phẩm rau và thực phẩm tươi sống bằng các hầm lạnh, gian hàng lạnh, tủ lạnh đã làm giảm các thực phẩm có chứa muối nitrat và nitrit. Tỷ lệ ung thư dạ dày ở các nước này càng giảm xuống rệt. Thực phẩm dể bị mốc. Nấm mốc Aspergillus Flavus thường có ở thư gan nguyên phát. Sự đột biến gen P53 được tim thấy trong 53% các trường hợp ung thư tế bào gan nguyên phát ở các khu vực có độc tố alfatoxin trong thực phẩm. 2.3 Các ung thư liên quan đến nghề nghiệp. Theo các nghiên cứu của Pháp, phơi nhiễm nghề nghiệp có thể gây ra khoảng 3% tử vong do ung thư. Các nghiên cứu ở Mỹ những năm gần đây có tỷ lệ cao hơn do phơi nhiễm với các chất như amian, arsen, nicken, chrome, benzene và các sản phẩm của công nghiệp hoá dầu. Tuy nhiên phơi nhiễm nghề nghiệp là khó đánh giá do phối hợp với các yếu tố khác như thuốc lá và rượu. Tác nhân sinh ung thư quan trọng nhất trong việc gây ung thư nghề nghiệp chủ yếu là các hoá chất và ít gặp hơn là các tác nhân khác như là vi rút, bức xạ ion hoá. Việc đánh giá ung thư nghề nghiệp trong dân số chỉ mang tính chất tương đối. Một số công trình nghiên cứu ở Mỹ cho thấy rằng 4% ung thư là có liên quan đến nghề nghiệp.Một số đánh giá của các quốc gia công nfghiệp hoá khác thấy tỉ lệ này thay đổi từ 2 đến 8%... ở các nước đang phát triển và các nước mới công nghiệp tỷ lệ ung thư do nghề nghiệp chưa được đánh giá một các rõ ràng. Các ung thư nghề nghiệp thường xãy ra ở các hệ cơ quan tiếp xúc trực tiếp với các nhân sinh ung thư hay các chất chuyển hoá các hoạt tính của các tác nhân này. Pott (1775) lần đầu tiên đã mô tả về tỉ lệ ung thư da bìu cao hơn ở những người thợ cạo ống khói,ông đã gợi ý mối liên quan với nghề nghiệp và cho rằng mồ hóng là nguyên nhân. Hắc ín và các dẫn xuất của chúng có trong dầu mỏ và cũng được xem là các chất sinh ung thư. Tần suất ung thư da cao ở những người thợ đánh sợ và thợ máy là do họ sử dụng những thiết bị được bôi trơn bằng dầu mỏ có chất hydrocarbon thơm là dẫn xuất từ anthracene. Ung thư nghề nghiệp thường hay gặp nhất là ung thư đường hô hấp. Người ta đã xác định một số hoá chất hay hỗn hợp hoá chất trong môi trường nghề nghiệp có liên quan nhân quả với bệnh ưng thư phổi. Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế IARC đã đánh giá 10 hóa chất hay hỗn hợp khác như là khói thải của các động cơ diesel, beryllium và các hỗn hợp của nó, tinh thể silica, cadmium và các hợp chất của nó có khả năng sinh ung thư ở người. Amian có lẽ là chất quan trọng nhất gây ung thư phổi do nghề nghiệp. Hít bụi (Amium) sẽ gây sơ hoá phổi lan toả ( asbertosis ).Các nghiên cứu từ nhiều nơi trên thế giới cho thấy công nhân do nhiễm asbestos (asbestosis) thì tỉ lệ ung thư phổi hiện diện từ 20 đến 50% trường hợp trong đó bướu trung mô màng phổi chiếm tỉ lệ cao ( thậm chí thời gian tiếp xúc không dài ). Ung thư bàng quang cũng là một trong các ung thư nghề nghiệp thường gặp nhất. Bắt đầu từ giữa thế kỷ XIX. Công nghiệp nhuộm azo đã phát triển danh chóng. Vào thế kỷ này những trường hợp ung thư bàng quang đã được phát hiện ở các thợ thường tiếp xúc với các chất Anilin. Chất Anilin tự nó không sinh ra ung thư ở người và động vật nhưng Anilin có chứa nhiều tạp chất 4-amindiphenyl và có tính sinh ung thư. Các chất chính gây ra ung thư bàng quang trong kỷ nghệ sản xuất Anilin là Benzidine, 2-naphthylamine và 4-aminodiphenyl. Hít thở benzen có thể làm ức chế tủy xương và gây ra chứng thiếu máu bất sản, nếu tiếp xúc với benzen với mức độ cao sẽ gây bệnh ung thư bạch cầu tủy cấp. Ngoài ra nó có thể gây ra bệnh đa u tuỷ xương và u lympho ác tính. Sarcoma phần mềm ở công nhân tiếp xúc với chất diệt cỏ có gốc phenoxy; ung thư thanh quản gặp ở các công nhân tiếp xúc với hơi acid vô cơ mạnh và ung thư các xoang cạnh mũi gặp ở công nhân tiếp xúc với formaldehyd. Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế đã liệt kê 100 loại hoá chất có thể gây ra ung thư biểu mô và các Sarcoma ở các súc vật thí nghiệm. Một số hoá chất này có thể gây ung thư nghề nghiệp nhưng phần lớn còn lại cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng. 2.4. Hoá trị liệu Điều trị hoá chất chống ung thư có thể gây ra tổn thương AND và sinh ung thư. Ngày nay nhờ phát hiện sớm ung thư và sử dụng nhiều phuơng pháp điều trị hiệu quả nên thời gian sống thêm kéo dài hơn. Một số ung thư điều trị khỏi nhờ vào phát hiện ở giai đoạn chưa xâm lấn. Vì vậy vai trò sinh ung thư do hoá chất cần phải được cân nhắc và có biện pháp sàng lọc ở những đối tượng này. Bảng liệt kê các loại thuốc hay sử dụng có nguy cơ gây ung thư. Nguy cơ gây ung thư do thuốc gia tăng phụ thuộc vào các yếu tố: Tuổi sử dụng: tuổi càng trẻ càng tăng nguy cơ. Thời gian tiềm tàng giữa sử dụng thuốc và phát triển ung thư trung bình từ 5 đến 10 năm ngắn hơn so với 40 đến 50 năm trong phơi nhiễm hoá chất công nghiệp. Và sự hiện diện giữa các yếu tố cùng sinh ung thư như thuốc lá và phơi nhiễm phóng xạ. Thuốc gây ung thư nhiều nhất là các thuốc chống ung thư vì các loại thuốc này đã được chứng minh gây ung thư thực nghiệm và các loại ung thư chủ yếu là ung thư máu và các u lymphô ác tính.Ung thư máu thể tỷ cấp là biến chứng hiếm của các thuốc nhóm alkyl. Suy giảm miễn dịch do hoá trị thuốc ức chết miễn dịch, AIDS làm tăng nguy cơ mắc u lymphô ác tính do nhiễm EBV. Ngày nay, có nhiều thuốc chống ung thư hiện đại có hiệu quả nên thời gian sống thêm của bệnh nhân ung thư kéo dài hơn và nhiều loại ung thu có thể của khỏi do được phát hiện sớm và sử dụng hoá trị đa phương thức nên vai trò sinh ung thư do thuốc ngày càng được chú ý để có các biện pháp sàng lọc và phát hiện sớm các ung thư thứ hai này.
    Xét nghiệm Hematocrit

    Xét nghiệm Hematocrit

    07/11/2024 02:50:44
    388
    Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Thị Thùy Nhung - Phó Trưởng khoa Xét nghiệm - Khoa Xét nghiệm - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng . Hiện nay, xét nghiệm Hematocrit là một loại xét nghiệm máu được sử dụng chủ yếu nhằm chẩn đoán các rối loạn về máu, chẳng hạn như bệnh đa hồng cầu hoặc thiếu máu. Thông qua kết quả xét nghiệm Hematocrit sẽ giúp bác sĩ xác định được liệu bệnh nhân đang mắc phải chứng rối loạn máu nào, từ đó đưa ra biện pháp điều trị phù hợp. 1. Xét nghiệm Hematocrit là gì? Xét nghiệm Hematocrit là một loại xét nghiệm máu được áp dụng phổ biến hiện nay. Thông thường, máu của con người được tạo thành từ các tế bào bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu. Những tế bào máu này hiện diện ở trạng thái lơ lửng trong một loại chất lỏng, được gọi chung là huyết tương. Xét nghiệm Hematocrit giúp đo lường lượng máu của cơ thể được tạo thành từ các tế bào hồng cầu. Các tế bào hồng cầu có chứa một loại protein hemoglobin, giữ vai trò vận chuyển oxy từ phổi đi đến các bộ phận còn lại của cơ thể. Khi kết quả xét nghiệm cho thấy nồng độ hematocrit quá cao hoặc quá thấp, đây có thể là dấu hiệu của mất nước, rối loạn máu hoặc các tình trạng bệnh lý khác. 2. Xét nghiệm Hemacrotit được sử dụng để làm gì? Xét nghiệm Hematocrit thường là một phần của xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi – một loại xét nghiệm thường quy, được dùng để đo các thành phần khác nhau trong máu. Nhìn chung, Hematocrit được sử dụng trong việc chẩn đoán các rối loạn về máu như thiếu máu (tình trạng máu của bạn không có đủ các tế bào hồng cầu), hoặc bệnh đa hồng cầu (một chứng rối loạn máu hiếm gặp, trong đó máu của bạn có quá nhiều tế bào hồng cầu). 3. Vì sao bạn cần thực hiện xét nghiệm Hematocrit? Các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ có thể yêu cầu bạn thực hiện xét nghiệm Hematocrit như một khâu trong chu trình kiểm tra sức khỏe thường xuyên, hoặc trong trường hợp bạn có các triệu chứng của rối loạn tế bào hồng cầu, chẳng hạn như bệnh đa hồng cầu hoặc thiếu máu. Bệnh thiếu máu có thể bao gồm các triệu chứng điển hình sau đây: Khó thở Mệt mỏi Suy nhược cơ thể Đau đầu Chóng mặt Lạnh chân tay Tức ngực Da nhợt nhạt Các triệu chứng của bệnh đa hồng cầu thường bao gồm: Khó thở Nhìn mờ hoặc song thị Ngứa Đau đầu Mệt mỏi Da ửng đỏ Đổ quá nhiều mồ hôi   Xét nghiệm Hematocrit nhằm chẩn đoán các rối loạn về máu 4. Quy trình thực hiện xét nghiệm Hematocrit Thực tế, bạn không cần có bất kỳ sự chuẩn bị đặc biệt nào cho xét nghiệm Hematocrit. Nếu bác sĩ yêu cầu bạn thực hiện thêm các xét nghiệm trên mẫu máu của bạn, bạn có thể cần phải nhịn ăn uống trong vòng vài giờ trước khi xét nghiệm. Trong quá trình thực hiện Hematocrit, bác sĩ sẽ lấy mẫu máu từ tĩnh mạch trên cánh tay của bạn thông qua một chiếc kim nhỏ. Sau khi kim được đưa vào tĩnh mạch, một lượng máu nhỏ sẽ được thu thập vào lọ hoặc ống nghiệm. Bạn có thể cảm thấy hơi châm chích trong lúc kim được đưa vào hoặc đưa ra khỏi tĩnh mạch. Quá trình tiến hành lấy mẫu máu thường mất ít hơn 5 phút. Nhìn chung, xét nghiệm Hematocrit và các loại xét nghiệm máu khác thường có rất ít rủi ro. Một số người có thể cảm thấy đau nhẹ hoặc bị bầm tím tại chỗ kim tiêm được đưa vào, nhưng hầu hết các triệu chứng này sẽ biến mất nhanh chóng sau đó. 5. Ý nghĩa của kết quả xét nghiệm Hematocrit   Nếu kết quả xét nghiệm cho thấy mức Hemotocrit của bạn quá thấp, điều này có thể là dấu hiệu nhận biết của các tình trạng sau: Thiếu máu Dinh dưỡng thiếu vitamin B12, sắt hoặc folate Bệnh lý của tủy xương Bệnh thận Một số bệnh ung thư như ung thư hạch, bệnh bạch cầu hoặc đa u tuỷ Nếu kết quả xét nghiệm cho thấy mức Hematocrit của bạn quá cao, đây có thể là dấu hiệu nhận biết của các tình trạng sau: Mất nước – một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của nồng độ hematocrit cao trong máu. Việc uống nhiều chất lỏng hơn sẽ giúp đưa mức hematocrit của bạn trở lại bình thường. Bệnh tim bẩm sinh Bệnh phổi Bệnh đa hồng cầu Nếu kết quả xét nghiệm Hematocrit của bạn không nằm trong giới hạn bình thường, điều đó không nhất thiết có nghĩa là bạn đang mắc phải một bệnh lý cần được điều trị. Một số yếu tố nhất định có thể làm ảnh hưởng đến mức Hematocrit của bạn, bao gồm mang thai, mới truyền máu hoặc sống ở nơi có độ cao lớn. Tốt nhất, bạn nên trao đổi kỹ lưỡng với bác sĩ để tìm hiểu thêm về kết quả xét nghiệm của mình. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Nguồn tham khảo: medlineplus.gov
    CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUẨN ĐOÁN UNG THƯ

    CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUẨN ĐOÁN UNG THƯ

    18/05/2024 03:52:13
    462
    6 PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN UNG THƯ PHỔ BIẾN HIỆN NAY Tác giả: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Có hàng trăm loại ung thư khác nhau và có thể phát triển ở bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể. Bệnh có thể có triệu chứng hoặc không có bất kỳ dấu hiệu nào. Tất cả các bệnh ung thư đều có điểm chung là bắt đầu khi các tế bào bất thường trong cơ thể phát triển và lây lan không kiểm soát. Vậy có thể chẩn đoán ung thư không? Chẩn đoán ung thư bằng những phương pháp nào? Bài viết dưới đây sẽ giải đáp các vấn đề trên. Chẩn đoán ung thư là gì? Chẩn đoán ung thư là các phương pháp được áp dụng để xác định xem người bệnh có bị ung thư hay không. Việc chẩn đoán ung thư không chỉ dựa vào kết quả của một xét nghiệm mà phải dựa trên tiền sử bệnh, khám lâm sàng và các kết quả xét nghiệm. (1) Sau khi xác định chẩn đoán bệnh ung thư và đánh giá giai đoạn, các bác sĩ sẽ lập kế hoạch điều trị, đánh giá hiệu quả và theo dõi sau điều trị. Các phương pháp chẩn đoán ung thư bao gồm: chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm (máu, dịch cơ thể do u sinh ra), sinh thiết khối u, kiểm tra nội soi, phẫu thuật hoặc xét nghiệm di truyền. Các phương pháp chẩn đoán ung thư phổ biến Có nhiều phương pháp chẩn đoán ung thư khác nhau, từ các phương pháp chẩn đoán hình ảnh đến các xét nghiệm (máu, tế bào khối u hoặc hạch…) và khám lâm sàng. Một số phương pháp chẩn đoán phổ biến như: 1. Khám sàng lọc Khám sàng lọc là một trong những phương pháp chẩn đoán ung thư đầu tiên. Để thực hiện, tùy theo triệu chứng lâm sàng và tiền sử gia đình của người bệnh mà bác sĩ sẽ chỉ định các xét nghiệm như: xét nghiệm máu, siêu âm, nội soi… Khi bác sĩ phát hiện các dấu hiệu bất thường sẽ tiến hành chụp CT, chụp MRI, chụp PET/CT và nhiều xét nghiệm chuyên sâu khác. (2) 2. Chẩn đoán hình ảnh Chẩn đoán hình ảnh là phương pháp chẩn đoán ung thư được áp dụng tiếp theo, bao gồm các dạng chẩn đoán sau: (3) X-quang: sử dụng tia X để tạo hình ảnh của cơ thể, giúp phát hiện các khối u hoặc biến đổi trong cơ thể. MRI (Magnetic Resonance Imaging): sử dụng từ trường để tạo hình ảnh chi tiết của cơ thể, giúp xác định kích thước và vị trí của các khối u. CT scan (Computed Tomography): sử dụng tia X để tạo hình ảnh cắt lớp của cơ thể, cung cấp thông tin về cấu trúc nội bộ của cơ thể và phát hiện các khối u. PET scan (Positron Emission Tomography): sử dụng chất phóng xạ sinh học để phát hiện các vùng của cơ thể có hoạt động hấp thu phóng xạ cao (các vùng tế bào ung thư, vùng di căn, hạch…). 3. Xét nghiệm máu và chất dịch của cơ thể Xét nghiệm máu và chất dịch của cơ thể giúp chẩn đoán giai đoạn ung thư hiệu quả, cụ thể: Xét nghiệm máu: phân tích mẫu máu để tìm kiếm dấu ấn do tế bào ung thư sinh ra (dấu ấn ung thư: tumor marker), các đột biến gen của tế bào ung thư hoặc sự bất thường của các dòng tế bào máu trong bệnh ung thư hệ máu. Xét nghiệm chất dịch của cơ thể từ khối u sinh ra: việc phân tích chất dịch cơ thể từ khối u sinh ra (dịch màng bụng, dịch màng phổi) có thể cung cấp thông tin về loại và tính chất của tế bào ung thư. 4. Chẩn đoán tế bào u Biopsies (sinh thiết): một mẫu mô từ khối u được lấy ra và kiểm tra dưới kính hiển vi để xác định có tế bào ung thư hay không. (4) 5. Kiểm tra di truyền Kiểm tra di truyền chẩn đoán ung thư: xác định các đột biến gen di truyền trong mẫu DNA của người bệnh có thể tăng nguy cơ mắc ung thư. 6. Nội soi Nội soi có thể được áp dụng để chẩn đoán ung thư. Phương pháp này sử dụng ống nội soi có đèn và camera kết nối để chiếu hình ảnh lên màn hình tivi, giúp bác sĩ quan sát bên trong cơ thể. (5) Nội soi thường thông qua các lỗ tự nhiên của cơ thể như: miệng, mũi, hậu môn, cổ tử cung hay thông qua các vết cắt nhỏ trên da để kiểm tra các khu vực khác (phẫu thuật nội soi). Các loại nội soi bao gồm: Nội soi thực quản dạ dày tá tràng (còn gọi là EGD hoặc nội soi trên) Nội soi đại tràng, nội soi trực tràng Nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) Nội soi phế quản Nội soi tai mũi họng Nội soi ổ bụng Nội soi bàng quang Nội soi tử cung Những phương pháp này có thể được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với nhau để đưa ra chẩn đoán bệnh ung thư. Phát hiện sớm thông qua các phương pháp chẩn đoán có vai trò quan trọng trong điều trị và nâng cao cơ hội sống cho người bệnh. Chụp MRI chẩn đoán ung thư Chẩn đoán ung thư có thể sai không? Phương pháp chẩn đoán ung thư có thể sai sót trong một số trường hợp. Một số nguyên nhân phổ biến khiến kết quả chẩn đoán không chính xác như: Mẫu không đại diện: khi mẫu tế bào hoặc mô lấy từ khối u không đại diện cho toàn bộ khối u của người bệnh, có thể dẫn đến kết quả chẩn đoán sai sót. Lỗi trong quá trình xử lý mẫu: các lỗi trong quá trình lấy mẫu, chuẩn bị mẫu hoặc phân tích mẫu có thể dẫn đến kết quả chẩn đoán không chính xác. Sự hiểu biết kỹ thuật không đủ: nhân viên không có đủ kinh nghiệm cũng như kiến thức để đánh giá mẫu và đưa ra kết luận chẩn đoán chính xác. Trường hợp đặc biệt: có những trường hợp đặc biệt hoặc hiếm gặp có thể gây khó khăn trong việc chẩn đoán, không phát hiện được tế bào ung thư hoặc chẩn đoán sai sót. Sự hiểu biết và công nghệ không đủ hiện đại: một số loại ung thư có thể khó phát hiện bằng các phương pháp chẩn đoán hiện có hoặc yêu cầu công nghệ và kiến thức chẩn đoán cụ thể cao hơn. Mặc dù việc chẩn đoán không chính xác là một vấn đề nhưng các nhà cung cấp dịch vụ y tế thường áp dụng các biện pháp kiểm soát chất lượng và sử dụng các phương pháp chẩn đoán tiên tiến để giảm thiểu khả năng sai sót. Ngoài ra, việc xác nhận kết quả và khám lại bằng các phương pháp khác cũng giúp cải thiện kết quả chẩn đoán. Xét nghiệm máu chẩn đoán ung thư Khi nào cần khám chẩn đoán ung thư? Khi bạn cảm thấy bất kỳ thay đổi nào của cơ thể, hãy chủ động đi khám bác sĩ sớm. Phát hiện bệnh ung thư ở giai đoạn càng sớm, cơ hội điều trị khỏi bệnh hoàn toàn càng cao. Các triệu chứng bao gồm: Giảm cân nhanh không rõ nguyên nhân; Ho ra máu và/hoặc khàn tiếng kéo dài không dứt; Tiểu ra máu thường xuyên; Âm đạo ra dịch tiết hoặc dịch máu bất thường, chu kỳ kinh nguyệt không đều; Phát hiện khối u cục ở vú; Khó nuốt, tức ngực, cảm thấy vướng ở họng; Tuy nhiên, bất kì ai cũng có nguy cơ mắc bệnh ung thư do môi trường sống ngày càng ô nhiễm, thực phẩm bẩn tràn lan trên thị trường, chế độ ăn uống không khoa học… Do đó, dù bạn đang khỏe mạnh, bất kể độ tuổi, tình trạng sức khỏe ra sao thì tầm soát ung thư là cần thiết. Tầm soát ung thư là quá trình sàng lọc để phát hiện ung thư ở giai đoạn rất sớm và hoàn toàn chưa có bất kỳ dấu hiệu nào của bệnh ung thư. Tần suất và thời điểm tầm soát ung thư phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm: tuổi, yếu tố nguy cơ, tiền sử y tế và hướng dẫn từ các tổ chức y tế. Một số hướng dẫn tổng quát về thời điểm và tần suất nên tầm soát ung thư: Tuổi: Với nhiều loại ung thư (ung thư đại trực tràng, ung thư vú, và ung thư cổ tử cung) việc tầm soát thường bắt đầu từ tuổi trung niên (40-50 tuổi) và tiếp tục theo dõi định kỳ nếu có yếu tố nguy cơ cao. Tuy nhiên, việc tầm soát ung thư ở tuổi trẻ hơn có thể được khuyến khích nếu có yếu tố nguy cơ gia đình hoặc tiền sử y tế bản thân. Yếu tố nguy cơ: Những người có tiền sử gia đình mắc các loại ung thư như: ung thư vú, ung thư đại trực tràng, hoặc ung thư tuyến tiền liệt nên được tầm soát sớm hơn và định kỳ hơn. Các yếu tố nguy cơ khác như: hút thuốc lá, tiếp xúc với chất gây ung thư, sử dụng nhiều rượu bia, thừa cân/béo phì hoặc các tiền sử bệnh lý khác. Tiền sử bệnh: Những người đã từng mắc bệnh có liên quan đến ung thư hoặc đã điều trị ung thư trong quá khứ thường cần thực hiện tầm soát ung thư định kỳ để theo dõi sức khỏe. Hướng dẫn từ tổ chức y tế: Các tổ chức y tế thường cung cấp hướng dẫn cụ thể về tầm soát ung thư cho mọi đối tượng dựa trên nghiên cứu và chứng cứ khoa học. Chỉ định từ bác sĩ hoặc chuyên gia y tế: Luôn tuân thủ chỉ định và khuyến nghị từ bác sĩ hoặc chuyên gia y tế khi quyết định thời điểm và tần suất tầm soát ung thư. Tóm lại, việc quyết định khi nào và tần suất tầm soát ung thư là quá trình cá nhân hóa, cần xem xét các yếu tố riêng biệt của mỗi người. Bạn nên thảo luận với bác sĩ hoặc chuyên gia y tế của để đưa ra quyết định tốt nhất cho sức khỏe của bản thân. Siêu âm chẩn đoán ung thư BVĐK Tâm Anh đầu tư trang thiết bị, máy móc hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế, cùng đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, giỏi chuyên môn, tầm soát phát hiện sớm ung thư giúp nhiều người bệnh được điều trị khỏi, kéo dài sự sống. Hệ thống chụp cắt lớp vi tính (CT) 768 lát cắt, máy CT 1975 lát cắt, tích hợp trí tuệ nhân tạo AI, cho hình ảnh sắc nét, giảm liều tia tối đa… Máy chụp cộng hưởng từ (MRI) ứng dụng công nghệ “ma trận sinh học toàn phần” (Đức), mang lại giá trị chẩn đoán cao vượt trội, giảm tiếng ồn đến 97% và rút ngắn 50% thời gian chụp so với quy trình chuẩn. Hệ thống X-quang kỹ thuật số treo trần hiệu quả gấp 3 lần so với máy chụp X-quang thông thường. Hệ thống chụp nhũ ảnh kỹ thuật số cắt lớp (nhũ ảnh 3D) giúp tăng tỷ lệ phát hiện ung thư lên đến 40%, đồng thời giảm tỷ lệ dương tính giả lên đến 40% với liều xạ sử dụng rất thấp. Hệ thống máy siêu âm 3D đàn hồi real time cung cấp nhiều thông tin quan trọng như: vi mạch tân sinh và độ cứng trong sang thương; biến dạng cấu trúc… Hệ thống nội soi Fuji 7000 có khả năng phóng đại lên đến 140 lần giúp quan sát tất cả các tổn thương đường tiêu hóa có kích thước rất nhỏ, khó nhìn bằng mắt thường hay các thiết bị cũ. Hệ thống nội soi Xion của Đức với chức năng PIET spectro phát hiện cấu trúc khối u, định hướng sinh thiết, giúp tầm soát ung thư vòm họng – hạ họng – thanh quản – hốc mũi. Hệ thống máy xét nghiệm miễn dịch – sinh hóa, huyết học, sinh học phân tử, vi sinh tiên tiến như: Roche Cobas system, Cobas 6500; máy khí máu Roche Cobas b211; Hệ thống máy xét nghiệm nước tiểu Roche Cobas u701, u601, u411… Khoa Ung bướu BVĐK Tâm Anh TP.HCM luôn phối hợp chặt chẽ với các chuyên khoa Sản Phụ khoa, Hô hấp, Tiết niệu, Ngoại Vú, Tim mạch – Lồng ngực, Tai – Mũi – Họng, Dinh dưỡng, Nội soi – Phẫu thuật Nội soi tiêu hóa, Tâm lý,… phát triển các phác đồ điều trị cá thể hóa, đa mô thức cho từng người bệnh, vừa nâng đỡ tổng trạng cơ thể, tâm lý vừa điều trị toàn diện, triệt để. Chụp X-quang chẩn đoán ung thư
    Dự án chất bán dẫn

    Dự án chất bán dẫn

    06/05/2024 12:29:15
    446
    Hàng tỷ USD đổ vào các dự án bán dẫn Việt Nam Đỗ Phong Lĩnh vực bán dẫn Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến của nhiều hãng sản xuất bán dẫn khi thu hút sự quan tâm, hiện diện của những “ông lớn” hàng đầu thế giới của Mỹ và Hàn Quốc như intel, Samsung…với những dự án từ hàng trăm triệu đến cả tỷ USD đầu tư xây dựng nhà máy, mở rộng sản xuất, lắp ráp... Nhà máy lắp ráp và thử nghiệm vi mạch điện tử của Công ty TNHH Intel Products Việt Nam Theo các chuyên gia, trong bối cảnh doanh nghiệp trên toàn thế giới tăng tốc trong cuộc đua chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái thiết bị, việc sản xuất chip vi mạch bán dẫn tích hợp trở thành xương sống cho hệ thống điện tử và ngành công nghệ phát triển. Việc áp dụng ngày càng nhiều công nghệ IoT và công nghệ nhà thông minh thúc đẩy sự phát triển của thị trường chất bán dẫn tại Việt Nam và các nhà máy sản xuất linh kiện bán dẫn đang được xúc tiến để giải quyết tình trạng thiếu hụt toàn cầu. Để làm ra một chip, có ba khâu cơ bản gồm: thiết kế, sản xuất và đóng gói. Việt Nam hiện đóng vai trò quan trọng trong ngành bán dẫn toàn cầu, trong đó chủ yếu tập trung vào lắp ráp, thử nghiệm và đóng gói. 2 TRONG SỐ 3 “ÔNG LỚN” CHIP THẾ GIỚI ĐÃ HIỆN DIỆN ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM Đặc biệt, khi nói tới đầu tư vào lĩnh vực chất bán dẫn không thể không nhắc tới Intel- một trong 3 nhà sản xuất bán dẫn hàng đầu thế giới, từ hơn 10 năm trước đã bắt đầu phát triển nhà máy tại Việt Nam, với quy mô 1 tỷ USD. Việt Nam hiện là nơi đặt nhà máy lắp ráp và kiểm định lớn nhất của hãng công nghệ này tại Khu công nghệ cao Tp.Hồ Chí Minh. Ước tính, nhà máy này chiếm hơn 50% tổng sản lượng của Intel trên toàn cầu. Năm 2021, Intel đã tăng vốn đầu tư dự án này lên gần 1,5 tỷ USD và đang có kế hoạch đầu tư thêm để mở rộng nhà máy tại Việt Nam. Việt Nam trở thành một phần quan trọng trong mạng lưới sản xuất toàn cầu của Intel.   Miền Bắc có dự án sản xuất chất bán dẫn đầu tiên Cùng với Intel, Samsung cũng tuyên bố kế hoạch sản xuất linh kiện bán dẫn ở Việt Nam. Việc sản xuất đại trà các sản phẩm lưới bóng chíp bán dẫn của Nhà máy Samsung Electro-Mechanics Việt Nam tại Thái Nguyên dự kiến được thực hiện vào cuối năm 2023, sau khi công tác sản xuất thử nghiệm hoàn tất. Ngoài ra thị trường còn chứng kiến sự hiện diện của Hana Micron Vina, Amkor Technology, và nhiều công ty khác, tích cực đầu tư vào các dự án này. Ở miền Bắc, ngày 16/9 vừa qua, Hana Micron Vina (Hàn Quốc) khánh thành dự án nhà máy sản xuất chất bán dẫn tại Khu công nghiệp Vân Trung (Bắc Giang). Đây là dự án sản xuất chất bán dẫn đầu tiên tại miền Bắc. Nhà máy tại Việt Nam sẽ là cơ sở sản xuất số một trong hoạt động kinh doanh toàn cầu của Tập đoàn. Dây chuyền nhà máy sản xuất của công ty Hana Micron Vina (Hàn Quốc) tại Bắc Giang. Hana Micron Vina là doanh nghiệp sản xuất và gia công bảng vi mạch tích hợp sử dụng cho điện thoại di động và các sản phẩm điện tử thông minh khác, có tổng vốn đăng ký đầu tư gần 600 triệu USD. Ông Choi Chang Ho, Chủ tịch Hana Micron Vina, cho biết đến năm 2025, công ty có kế hoạch tăng tổng mức đầu tư lên trên 1 tỷ USD. Hana Micron Vina sẽ phát triển một hệ sinh thái ngành công nghiệp chất bán dẫn mới tại Việt Nam, góp phần đa dạng các loại hình công nghệ, kỹ thuật sáng tạo mà Việt Nam đang theo đuổi. Một dự án cả tỷ USD khác (1,6 tỷ USD) trong lĩnh vực bán dẫn đang được Công ty Amkor Technology Việt Nam (Hàn Quốc) triển khai tại Bắc Ninh dự kiến hoàn thành vào tháng 9 tới và đưa vào sản xuất thử nghiệm ngay sau đó. Đây là nhà máy lớn, hiện đại nhất của Amkor trên toàn cầu. VIỆT NAM TIẾP TỤC ĐIỂM ĐẾN CỦA NHIỀU HÃNG HÀNG ĐẦU THẾ GIỚI VỀ PHÁT TRIỂN BÁN DẪN Gã khổng lồ sản xuất chip Hàn Quốc, Hanmi Semiconductor, cuối tháng 5/2023 công bố đưa Chi nhánh Hanmi Việt Nam tại Bắc Ninh vào hoạt động. Hanmi Semiconductor là một trong những nhà thiết kế, phát triển và sản xuất hàng đầu trong ngành thiết bị bán dẫn. Cũng cuối tháng 5/2023, công ty Infineon Technologies AG (Đức) về các giải pháp bán dẫn cho hệ thống điện và IoT đã thông báo việc mở rộng quy mô hoạt động tại Việt Nam, đồng thời thành lập một đội ngũ phát triển chip điện tử làm việc tại Hà Nội. Lực lượng này sẽ tập trung vào việc kiểm thử và tùy chỉnh các mạch kỹ thuật số, mạch tín hiệu analog và tích hợp, hỗ trợ các ứng dụng lái xe tự động, giám sát và cân bằng pin. Theo ông Hartmut Hiller, Phó Chủ tịch điều hành bộ phận Thiết kế và các dịch vụ hỗ trợ (DES), Infineon Technologies AG, trung tâm phát triển mới tại Hà Nội sẽ giúp hãng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, liên quan đến kiểm thử chức năng và thiết kế mạch tùy chỉnh cho các giải pháp về hệ thống trên chip (SoC) của Infineon. Ảnh minh họa Còn Synopsys (trụ sở tại California) triển khai một trung tâm ươm tạo và thiết kế chất bán dẫn phối hợp với Khu công nghệ cao TP.Hồ Chí Minh. Cũng tại Tp Hồ Chí Minh, Marvell- một trong những tập đoàn dẫn đầu thế giới về thiết kế vi mạch bán dẫn thành lập một trung tâm thiết kế chất bán dẫn đẳng cấp thế giới. Ngoài ra, Victory Giant Technology, tập đoàn chuyên sản xuất linh kiện điện tử, chất bán dẫn của Trung Quốc đã quyết định lựa chọn để xây dựng nhà máy với tổng mức đầu tư 400 triệu USD tại Bắc Ninh. Với sự sôi động của các dự án, một số chuyên gia trong ngành cho rằng Việt Nam đang nổi lên như một trung tâm sản xuất của nhiều doanh nghiệp bán dẫn thế giới và có thể sẽ tiếp tục sôi động hơn. Một chuyên gia công nghệ nhìn nhận, việc các công ty thiết kế vi mạch của Hàn Quốc đi theo Samsung vào Việt Nam như một số công ty gần đây cho thấy quy mô của ngành điện tử Việt Nam đã đủ lớn để kéo theo sự phát triển của ngành vi mạch bán dẫn, đầu tiên là trong các khâu thiết kế và đóng gói… Ngành công nghiệp bán dẫn ở Việt Nam đang mở ra những cơ hội phát triển, thu hút đầu tư. Việt Nam được đánh giá có hệ sinh thái bán dẫn phát triển nhanh, tiềm năng nâng cao vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc thúc đẩy một hệ sinh thái doanh nghiệp hỗ trợ sẽ giúp Việt Nam thu hút các doanh nghiệp lớn trong ngành chip bán dẫn. Trong tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt- Mỹ mới đây, hai bên ghi nhận tiềm năng to lớn của Việt Nam trở thành quốc gia chủ chốt trong ngành công nghiệp bán dẫn, đồng thời "ủng hộ sự phát triển nhanh chóng của hệ sinh thái bán dẫn tại Việt Nam, tích cực phối hợp nhằm nâng cao vị trí của Việt Nam trong chuỗi cung ứng bán dẫn. Việt Nam và Hoa Kỳ tuyên bố khởi động các sáng kiến phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực bán dẫn, trong đó Chính phủ Hoa Kỳ sẽ cấp khoản tài trợ gieo mầm ban đầu trị giá 2 triệu USD. Điều này được nhận định là bước tiến mới của Việt Nam trên con đường thâm nhập ngành công nghiệp trị giá hàng trăm tỷ USD. Thống kê, Việt Nam đã chiếm hơn 10% số lượng chip nhập khẩu của Mỹ trên toàn thế giới trong 7 tháng liên tiếp. Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, xét về mặt doanh số, Việt Nam đứng hạng 3 châu Á, sau  Malaysia và Đài Loan trong xuất khẩu chip bán dẫn vào Mỹ. Bên cạnh các dự án nước ngoài, Việt Nam một số đơn vị, doanh nghiệp công nghệ đã nghiên cứu, thiết kế, sản xuất chip như FPT Semiconductor, CMC, Viettel... Đây sẽ là con đường để Việt Nam tham gia sâu hơn vào ngành chip bán dẫn toàn cầu. Đơn cử như FPT đã tuyên bố thiết kế sản xuất thành công chip thương mại cung cấp cho nhiều thị trường và mục tiêu vươn tới vị trí công ty thiết kế chip lớn nhất Đông Nam Á. Theo báo cáo của Gartner, doanh thu ngành sản xuất chip toàn cầu năm 2022 tăng khoảng 1,2% so với năm 2021, đạt 601,7 tỷ USD. Dự báo, thị trường bán dẫn toàn cầu có quy mô khoảng 1.400 tỷ USD vào năm 2029. Tham gia thị trường bán dẫn toàn cầu, Việt Nam sẽ có được các cơ hội tỷ USD. Dự báo đến năm 2024, công nghiệp bán dẫn Việt Nam sẽ vượt giá trị 6,16 tỷ USD.
    TỦ HÚT ẨM CHO MÁY ẢNH

    TỦ HÚT ẨM CHO MÁY ẢNH

    05/05/2024 02:38:26
    388
    Tủ  hút ẩm camera Máy ảnh cần đặt ở nhiệt độ <10°C hoặc độ ẩm <60%RH thì nấm mốc sẽ ngừng phát triển, Tủ khô hút ẩm máy ảnh Dryzone được thiết kế đặc biệt để bảo quản máy ảnh, không chỉ có thể bảo vệ máy ảnh khỏi bị hư hại do độ ẩm mà còn bảo vệ máy ảnh. vỡ ống kính máy ảnh. Chống ẩm tốt: So với túi đựng máy ảnh có hút ẩm thì tủ hút ẩm đựng máy ảnh có chức năng chống ẩm tốt hơn rất nhiều. Độ ẩm vĩnh viễn giúp tiết kiệm thời gian và công sức: So với hộp khô nhựa truyền thống dễ bị hỏng và cần thay hạt hút ẩm thường xuyên. Tủ hút ẩm Camera dạng hộp tránh được những vấn đề như vậy. Tủ  hút ẩm cho camera hoạt động như thế nào? Độ ẩm là kẻ thù của máy ảnh. Độ ẩm cao có thể gây hư hỏng các bộ phận bên trong máy ảnh, chẳng hạn như ngưng tụ hơi nước trên ống kính, rỉ sét trên các bộ phận kim loại và nấm trên cảm biến máy ảnh. Bảo vệ máy ảnh của bạn khỏi độ ẩm là một trong những lý do chính khiến bạn cần tủ hút ẩm Những lý do khác khiến bạn có thể cần tủ hút ẩm cho camera bao gồm: - Bảo vệ máy ảnh khỏi bụi bẩn và các mảnh vụn khác. - Giữ máy ảnh của bạn có tổ chức. - Giữ máy ảnh của bạn an toàn khỏi hư hỏng do tai nạn. Tủ hút ẩm cho máy ảnh sử dụng chất hút ẩm hoặc hệ thống làm mát nhiệt điện để giữ độ ẩm ở mức thấp. Tủ hút ẩm hoạt động bằng cách hấp thụ độ ẩm từ không khí xung quanh trong khi hệ thống làm mát sử dụng hiệu ứng Peltier để giảm độ ẩm. Hầu hết các tủ hút ẩm máy ảnh đều hoạt động rất êm và bạn có thể cài đặt mức độ ẩm theo sở thích của mình. Một số kiểu máy đi kèm với máy đo độ ẩm hoặc màn hình kỹ thuật số hiển thị mức độ ẩm hiện tại. Hướng dẫn kích thước khi mua tủ hút ẩm để bảo quản Máy Ảnh Khi mua tủ kiểm soát độ ẩm cho camera, kích thước là yếu tố quan trọng cần quan tâm. Bạn muốn đảm bảo rằng tủ hút ẩm bạn chọn đủ lớn để chứa máy ảnh, ống kính và các phụ kiện khác, đồng thời cũng đủ nhỏ gọn để vừa với không gian lưu trữ của bạn. Dưới đây là một số hướng dẫn về kích thước để giúp bạn chọn tủ hút ẩm phù hợp với nhu cầu của mình: Xác định kích thước máy ảnh và phụ kiện của bạn - Đo kích thước thân máy ảnh, ống kính và các phụ kiện khác mà bạn muốn bảo quản trong tủ hút ẩm. Điều này sẽ giúp bạn xác định kích thước tối thiểu bạn cần cho tủ. Chọn tủ có kích thước ít nhất gấp 1,5 lần máy ảnh và phụ kiện của bạn - Một nguyên tắc hay là chọn tủ có kích thước lớn hơn máy ảnh và phụ kiện của bạn ít nhất 1,5 lần. Điều này giúp bạn có đủ không gian để cất giữ máy ảnh và còn chỗ trống cho những lần mua hàng sau này. Xem xét loại máy ảnh bạn có - Kích thước máy ảnh và phụ kiện của bạn sẽ khác nhau tùy thuộc vào việc bạn có máy ảnh DSLR, máy ảnh không gương lật hay máy ảnh ngắm và chụp. Hãy xem xét không gian bạn cần cho từng loại máy ảnh khi chọn kích thước tủ hút ẩm của bạn. Kiểm tra kích thước bên trong của tủ hút ẩm - Khi mua tủ hút ẩm, hãy đảm bảo kiểm tra kích thước bên trong của tủ thay vì chỉ kiểm tra kích thước bên ngoài. Điều này sẽ cho bạn ý tưởng chính xác hơn về lượng không gian bạn phải làm việc. Hãy suy nghĩ về việc mua hàng trong tương lai khi mua tủ hút ẩm cho máy ảnh & ống kính & bánh răng - Nếu bạn dự định bổ sung thêm ống kính, thiết bị máy ảnh hoặc phụ kiện vào bộ máy ảnh của mình, hãy cân nhắc mua tủ hút ẩm lớn hơn để chứa những đồ bổ sung này. Hãy nhớ rằng, tốt hơn hết bạn nên chọn tủ hút ẩm lớn hơn một chút so với nhu cầu ban đầu của bạn thay vì chọn tủ quá nhỏ. Điều này giúp bạn có chỗ để mở rộng bộ máy ảnh của mình mà không cần phải mua tủ hút ẩm mới. Hướng dẫn chất liệu khi mua tủ bảo quản Máy Ảnh Khi mua một chiếc tủ đựng thiết bị máy ảnh, chất liệu làm tủ là một yếu tố quan trọng cần cân nhắc. Chất liệu phù hợp có thể giúp đảm bảo rằng máy ảnh và phụ kiện của bạn luôn được bảo vệ khỏi độ ẩm, bụi và các yếu tố môi trường khác. Dưới đây là một số nguyên tắc vật chất cần lưu ý khi mua tủ hút ẩm: Tìm kiếm chất liệu bền - Tủ hút ẩm có thể được làm từ nhiều loại vật liệu khác nhau, bao gồm nhựa, kim loại và thủy tinh. Hãy tìm một vật liệu bền và lâu dài, chẳng hạn như thép không gỉ hoặc nhôm. Những vật liệu này đủ chắc chắn để chống mài mòn và bảo vệ máy ảnh của bạn khỏi những hư hỏng có thể xảy ra. Xem xét trọng lượng của tủ hút ẩm Tùy thuộc vào chất liệu làm tủ, tủ hút ẩm có thể nặng hoặc nhẹ. Hãy suy nghĩ về cách bạn định sử dụng tủ hút ẩm và tần suất bạn cần di chuyển nó. Nếu bạn dự định mang theo máy ảnh đi du lịch, một chiếc tủ hút ẩm nhẹ làm bằng nhựa hoặc nhôm có thể là lựa chọn tốt hơn. Kiểm tra độ kín khí - Độ kín khí là một đặc điểm quan trọng của tủ hút ẩm tốt. Điều này đảm bảo rằng không có hơi ẩm, bụi hoặc các yếu tố môi trường khác có thể xâm nhập vào tủ và làm hỏng máy ảnh của bạn. Hãy tìm loại tủ hút ẩm có nắp đậy kín và đảm bảo dễ dàng đóng mở. Kiểm tra lớp lót của tủ hút ẩm - Một số tủ hút ẩm có lớp lót có thể giúp hút ẩm và bảo vệ máy ảnh của bạn. Hãy tìm lớp lót làm bằng vật liệu như cao su xốp, có thể bảo vệ bổ sung chống va đập và rơi. Xem xét giá cả và ngân sách của bạn - Tủ hút ẩm có thể có giá dao động từ dưới 20 USD đến hơn 300 USD. Hãy xem xét ngân sách của bạn và số tiền bạn sẵn sàng chi cho một chiếc tủ hút ẩm. Hãy nhớ rằng, tủ hút ẩm giá cao hơn có thể được làm từ vật liệu bền hơn và bảo vệ tốt hơn, nhưng có thể không cần thiết nếu bạn chỉ thỉnh thoảng sử dụng máy ảnh. Nhìn chung, việc chọn chất liệu phù hợp cho tủ hút ẩm phụ thuộc vào nhu cầu, ngân sách và cách bạn dự định sử dụng máy ảnh của mình
    KIỂM SOÁT DƯ LƯỢNG NITRAT TRONG RAU, CỦ, QUẢ, THỊT, CÁ

    KIỂM SOÁT DƯ LƯỢNG NITRAT TRONG RAU, CỦ, QUẢ, THỊT, CÁ

    26/04/2024 12:37:52
    291
    Dư lượng NO3 là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá chất lượng rau quả. NO3 lần đầu tiên được phát hiện như dạng độc chất tồn dư trong nông sản, gây hại sức khỏe con người vào năm 1945. Mặc dù NO3không độc với thực vật nhưng nếu sản phẩm cây trồng được con người sử dụng, đặc biệt là bộ phận lá, NO3 được khử thành NO2 trong quá trình tiêu hóa lại là một chất độc, vì NO2 dễ phản ứng với amin tạo thành nitrosamin, là chất gây ung thư dạ dày.  Mặt khác, trong cơ thể con người, do sự khử NO3 nhanh hơn sự chuyển đổi NO2 nên nhanh chóng bị tích tụ, làm mất khả năng vận chuyển oxy trong máu, đồng thời hạ huyết áp và ở nồng độ cao cũng có thể gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và tăng nguy cơ sảy thai ở người.  Theo GS.TS Trần Khắc Thi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu rau quả cho biết, NO3 tức phân đạm vào cơ thể ở mức độ bình thường thì không gây độc, nhưng nếu hàm lượng vượt tiêu chuẩn cho phép thì rất nguy hiểm. Bởi NO3 là gốc của phân đạm, nếu bón quá liều, hoặc chỉ bón phân đạm, không bón cân đối với phân chuồng, lân, kali, không đảm bảo thời gian cách ly trước khi thu hoạch chúng sẽ tích lũy nhiều trong lá rau. Khi vào cơ thể với hàm lượng cao, NO3 sẽ phản ứng với các axit amin thành chất gây ung thư gọi là nitrosamin. Có 4 yếu tố làm cho rau không an toàn, đứng đầu bảng là NO3; sau đó lần lượt là kim loại nặng (thủy ngân, chì, asen) đến từ nước thải công nghiệp; thuốc BVTV và cuối cùng là vi sinh vật gồm E.coly, Salmonella, trứng giun. Chính vì vậy, các nước nhập khẩu rau, đặc biệt là Nga và EU bao giờ cũng phải kiểm tra NO3, sau đó mới tới các thành phần khác, nếu quá liều thì họ trả lại ngay. Để hạn chế NO3, GS.TS Trần Khắc Thi cho rằng, nên tránh ăn rau quá xanh vì chúng hấp thu nhiều NO3. Khi bón phân đạm, NO3 chỉ tập trung ở bộ phận lá, còn quả là bộ phận thứ cấp, tích lũy rất ít nên mức độ độc hại thấp hơn nhiều. Bên cạnh đó, tùy từng loại rau, tùy trọng lượng cơ thể người và lượng ăn vào để xác định hàm lượng NO3 sao cho trong ngưỡng an toàn. Để đảm bảo sức khoẻ cho người tiêu dùng cũng như xuất khẩu ra các thị trường khó tính, đòi hỏi cơ sở và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải thường xuyên gửi mẫu tới các trung tâm kiểm nghiệm đã được các Bộ, ngành chỉ định để thực hiện việc kiểm tra giám sát chất lượng rau quả. Công ty TNHH Thiết bị Khoa học Kỹ thuật Sông Hồng đã và đang kinh doanh một số thiết bị cũng như test nhanh để kiểm tra hàm lượng Nitrat trong các sản phẩm rau củ quả thịt cá, cụ thể là Máy Greentest với các ưu điểm như sau: Máy sử dụng công nghệ mới và cập nhật nhất, là thiết bị thông minh không những trong việc kiểm tra hàm lượng nitrat trong rau, củ, quả, thịt, cá mà còn xác định chất lượng nước uống và nguồn phóng xạ môi trường xung quanh để cho người sử dụng có thể bảo vệ chính mình khỏi những ion phóng xạ không an toàn Người sử dụng có thể kết nối thiết bị với 1 điện thoại thông minh để tiến hành đo thông qua APP có thể tải về trên phần mềm Android (CH play) hoặc App Store để tải phần mềm Greentest  Công nghệ kết nối Bluetooth giúp kết nối lưu trữ và chia sẻ dữ liệu Máy gọn nhẹ, hiển thị trên màn hình màu, ngôn ngữ Tiếng Việt (dễ sử dụng), tiến hành đo nhanh chỉ với 3 giây, máy sử dụng pin có thể sạc với tuổi thọ lâu dài, tiện lợi, kinh tế có thể sử dụng trong thời gian 20 giờ. Máy có chức năng đặt thời gian để kiểm soát thời gian nấu nướng giúp giữ được lượng vitamin và các chất dinh dưỡng ở mức tối đa   Các thông số kỹ thuật: Đo hàm lượng Nitrat có trong: rau, củ quả, thịt cá Đo mức phóng xạ: Có Đo lượng chất rắn không hòa tan TDS trong nước: Có Dải đo Nitrat: 0 - 9999 mg/kg Dải đo mức phóng xạ: 0 - 9.99usv/h (999.9ur/h) Dải đo nước cứng: 0 - 9999mg/l Thời gian đo: 3 giây Độ chính xác đo: <10% Nguồn cung cấp: Pin Lithium-ion Dung lượng của pin: 720 mah Dòng xạc USB: 310mA Nguồn cung cấp USB: 5V Thời gian làm việc của pin: tới 20 giờ Màn hình màu TFT: 320*240 Dải nhiệt độ vận hành: 0 tới + 60 độ C Kích thước (LxWxH): 122x52x14 mm Trọng lượng: 90 g
    Mỗi năm chúng ta 'ăn' ít nhất 50.000 hạt vi nhựa, vậy nó tác động thế nào đến sức khỏe?

    Mỗi năm chúng ta 'ăn' ít nhất 50.000 hạt vi nhựa, vậy nó tác động thế nào đến sức khỏe?

    26/04/2024 11:21:16
    232
    Mỗi năm chúng ta 'ăn' ít nhất 50.000 hạt vi nhựa, vậy nó tác động thế nào đến sức khỏe? SKĐS - Giáo sư Ravindra Khaiwal, Khoa Y học Cộng đồng và Trường Y tế Công cộng, Viện Nghiên cứu và Giáo dục Y khoa Sau Đại học (PGIMER), Chandigarh cảnh báo, từ những phần sâu nhất của đại dương đến phổi, vi nhựa dường như đã xâm nhập vào mọi khía cạnh của sự tồn tại của chúng ta. Vi nhựa là gì? Sự tích tụ vi nhựa (MP) phổ biến trong môi trường tự nhiên và đã thu hút sự chú ý đáng kể từ các nhà nghiên cứu. Đây là những hạt nhựa cực nhỏ (<5mm) xâm nhập vào môi trường từ cả nguồn cả nhựa trong sản xuất và nhựa tái sử dụng. Các mảnh vụn vi nhựa là một chất ô nhiễm phổ biến, lâu dài, có khả năng chống suy thoái môi trường cao và dễ dàng kết dính với các chất ô nhiễm hữu cơ bền kỵ nước. Theo ước tính toàn cầu gần đây nhất về vi nhựa, có khoảng 51 nghìn tỷ hạt vi nhựa trôi dạt trên bề mặt đại dương. Một người tiêu thụ ít nhất 50.000 hạt vi nhựa hàng năm do ô nhiễm chuỗi thức ăn, nước uống và không khí. Sự gia tăng rộng rãi của MP trong môi trường tự nhiên và chuỗi thức ăn là kết quả của việc mở rộng sản xuất nhựa tổng hợp liên tục và nhanh chóng, quản lý yếu kém và phân mảnh rác thải nhựa không đúng cách. Liên quan đến ô nhiễm không khí, đất nước với vi hạt nhựa, các rủi ro về sinh thái và sức khỏe liên quan đến phơi nhiễm vi hạt nhựa là mối quan tâm lớn. Có cần đun nóng thịt hộp, cá hộp trước khi ăn để ngừa ngộ độc Botulinum?ĐỌC NGAY Tỷ lệ vi nhựa trong thực phẩm của con người Sự phổ biến của MP đã được phát hiện trong thực phẩm, đồ uống (nước đóng chai, bia, mật ong, muối...,) và trong các mẫu không khí, và việc tiếp xúc với MP qua đường ăn uống hoặc hít thở có thể có tác động tiêu cực đến sức khỏe con người. Sự hiện diện của vi nhựa trong các loài sinh vật biển ăn được cũng như hải sản (như cá và động vật có vỏ) làm dấy lên lo ngại về tác động sức khỏe tiềm ẩn của vi nhựa. MP cũng liên quan đến bệnh tật và tử vong ở các sinh vật biển và thủy sinh khác nhau. Những ảnh hưởng có hại cho sức khỏe con người của hạt vi nhựa có thể là do độc tính của các hóa chất liên quan hoặc do độc tính của hạt. Các chất phụ gia hóa học độc hại chính có trong vi nhựa rất đáng lo ngại đối với sức khỏe con người bao gồm Bisphenol A (BPA), phthalates, triclosan, chất chống cháy brom (BFR), bisphenone và organotin. Nguy cơ sức khỏe lớn nhất liên quan đến hóa chất BPA, được sử dụng để làm cứng nhựa và sau đó ngấm vào thực phẩm. BPA đã được phát hiện ở nồng độ từ 5 đến 284 g/kg vi nhựa và ước tính rằng người tiêu dùng động vật có vỏ tiêu thụ tới 11.000 hạt vi nhựa hàng năm, theo các nghiên cứu. BPA có thể làm ô nhiễm thực phẩm và đồ uống, đồng thời gây ra những thay đổi về chức năng gan, kháng insulin, sự phát triển của thai nhi ở phụ nữ mang thai, hệ thống sinh sản và chức năng não. Ô nhiễm hạt vi nhựa đe dọa tới môi trường và sức khỏe con người. Một số tác động có thể nhìn thấy của microplastic ( vi nhựa) đối với sức khỏe con người Vi nhựa trong máu người: Năm 2022, Giáo sư Dick Vethaak, nhà nghiên cứu về chất độc sinh thái, Vrije Universiteit Amsterdam, Hà Lan đã kiểm tra các mẫu máu của 22 người hiến tặng trưởng thành khỏe mạnh và phát hiện ra các hạt nhựa trong 17 mẫu trong số đó. Một phần ba số mẫu chứa polystyrene, được sử dụng để đóng gói thực phẩm và các sản phẩm khác, trong khi một nửa số mẫu chứa nhựa PET, thường được sử dụng trong bình đựng đồ uống. Một phần tư mẫu máu chứa polyetylen; vật liệu được sử dụng để sản xuất túi đựng bằng nhựa. Đã có nghiên cứu về sự tích tụ vi nhựa trong máu. Sự tích tụ của vi nhựa trong nhau thai người: Vào năm 2021, một nghiên cứu đã phân tích sự hiện diện của vi nhựa ở phụ nữ mang thai bằng phương pháp quang phổ Raman ở Ý và tìm thấy MP trong tất cả các phần của nhau thai, bao gồm cả màng của mẹ, màng ối và thai nhi. Ảnh hưởng của vi nhựa đối với sức khỏe đường ruột: MP làm suy yếu hệ vi sinh vật đường ruột, dẫn đến sự mất cân bằng của vi khuẩn đường ruột cần thiết cho cơ thể con người được gọi là chứng rối loạn vi khuẩn đường ruột. Các tác động tiêu cực khác đối với sức khỏe con người của vi nhựa bao gồm sự khởi đầu của bệnh béo phì, ung thư, tổn thương DNA, stress oxy hóa, nhiễm độc thần kinh, bệnh tim mạch cũng như nhiều hậu quả về sinh sản và phát triển. Ngoài ra, các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm đã chỉ ra rằng vi nhựa gây tổn hại cho tế bào người, bao gồm phản ứng dị ứng, chết tế bào, tổn thương tế bào và gây ra các phản ứng viêm và miễn dịch. Các nghiên cứu trong ống nghiệm đã chỉ ra rằng sự chuyển vị trí của các hạt vi nhựa từ khoang tiêu hóa sang hệ bạch huyết và hệ tuần hoàn, dẫn đến sự phơi nhiễm và tích tụ toàn thân trong các mô như não, thận và gan. MP có thể vượt qua hàng rào biểu mô của phổi và ruột, đường tiêu hóa và nhau thai với cấu hình hấp thu đặc biệt.
    LỌC TIẾP TUYẾN TRONG SẢN XUẤT CHẾ PHẨM SINH HỌC

    LỌC TIẾP TUYẾN TRONG SẢN XUẤT CHẾ PHẨM SINH HỌC

    26/07/2021 08:59:32
    828
    GIỚI THIỆU Trong sản xuất sản phẩm chế phẩm vi sinh, ly tâm là một phương pháp thường được sử dụng để cô đặc các tế bào trước khi ổn định. Tuy nhiên, hoạt động này dẫn đến chi phí sản xuất và bảo trì cao; chất lượng sản phẩm thấp do nhiệt độ cao. Ngoài ra, vì phương pháp ly tâm dựa trên sự khác nhau về khối lượng riêng của các thành phần; nên khi cô đặc sinh khối, sự phân tách giữa sinh khối cô đặc và dịch lỏng trường thường không hoàn toàn (dưới 90%); vì vậy sự thất thoát sinh khối tế bào trong dịch thải bỏ là rất lớn. Thay vào đó, phương pháp lọc tiếp tuyến được xem như là phương pháp tốt để tách các tế bào vi khuẩn. Phương pháp lọc tiếp tuyến thường được áp dụng như là bước đầu tiên để thu hoạch các sản phẩm sinh học như sinh khối vi sinh, protein tái tổ hợp, enzym, kháng sinh, axit hữu cơ do vi sinh vật tạo ra,… PHƯƠNG PHÁP LỌC TIẾP TUYẾN Nguyên tắc của phương pháp lọc tiếp tuyến là lọc toàn bộ dịch lỏng  đầu vào; dịch lỏng sẽ được di chuyển vào cột lọc/casette thông qua bơm áp lực. Ở đó, các dịch có kích thước/trọng lượng phân tử nhỏ hơn kích thước màng bao gồm cả nước sẽ đi tiếp tuyến qua bề mặt màng lọc để đi ra qua đường dịch qua màng (gọi tắt là permeate); các chất có kích thước lớn hơn cỡ lỗ màng lọc (sinh khối vi sinh vật) sẽ đi qua đường hồi (gọi là retentate) và được quay lại tank chứa ban đầu; từ đó làm cô đặc mật độ vi sinh vật. Nguyên lý hệ thống lọc tiếp tuyến:   Ưu điểm của công nghệ này là hạn chế sự tạo thành lớp cặn tích tụ bám vào bề mặt màng và gây ra hiện tượng tắc màng như công nghệ lọc truyền thống. Theo phương pháp này, môi trường sau lên men đi vào cootju/màng theo phương tiếp tuyến với màng lọc, với kích thước lỗ từ 0,05 đến 1 µm tùy vào mục đích sử dụng. Màng lọc này, giúp tách biệt chọn lọc các tế bào khỏi môi trường lên men (thấm qua màng) do sự chênh lệch áp suất, điều này làm cho sinh khối được cô đặc lại. Gradient áp suất này, được gọi là áp suất xuyên màng, cùng với vận tốc dòng chảy được áp dụng cho các môi trường lên men, là hai thông số quan trọng đặc trưng cho phương pháp lọc tiếp tuyến. ƯU ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP LỌC TIẾP TUYẾN - Lọc tiếp tuyến là một kỹ thuật đa năng để thu hoạch tế bào và là phương pháp tốt loại bỏ các mảnh vụn tế bào trong quá trình sản xuất, thu hồi các sản phẩm nội bào. - Vốn và chi phí bảo trì của màng vi lọc thấp hơn so với ly tâm  - Có thể thu hồi hầu như 100% sinh khối tế bào, trong khi đó ở phương pháp ly tâm thường ít hơn 90% với lọc tiếp tuyến. - Hơn nữa, quá trình lọc tiếp tuyến là một quy trình xử lý môi trường lên men hiệu quả hơn so với ly tâm để sản xuất sinh khối tế bào: ít ảnh hưởng đến nồng độ tế bào vi sinh sau lọc, ít ảnh hưởng đến hoạt động cũng như các tính năng của tế bào, ít ảnh hưởng đến trạng thái sinh lý của tế bào. Vì vậy, khả năng sống, hàm lượng enzyme, các hoạt chất của tế bào cũng như tính ổn định của tế bào không bị ảnh hưởng bởi phương pháp lọc tiếp tuyến. Từ đó làm chất lượng sản phẩm ổn định và giảm chi phí sản xuất. - Có thể cô đặc huyền phù tế bào đến 10-40% trọng lượng khô (tùy từng loại dịch và theo yêu cầu). - Phương pháp lọc tiếp tuyến, có thể có lợi thế hơn so với ly tâm với các yêu cầu về kiểm soát nhiễm chéo như: Khi xử lý các sinh vật gây bệnh trong sản xuất vaccine (nhiễm chéo ra môi trường hoặc trong công nghệ DNA tái tổ hợp); trong sản xuất vi sinh (nhiễm chéo từ môi trường sản phẩm). Vì không khí trong ly tâm tạo ra trong quá trình hoạt động, còn trong lọc tiếp tuyến tất cả các thông số đầu vào và đầu ra có thể kiểm soát  vô trùng. - Hạn chế sự tạo thành lớp cặn tích tụ bám vào bề mặt màng và gây ra hiện tượng tắc màng như công nghệ lọc truyền thống, do đó cho phép xử lý chất lỏng chứa một lượng khá lớn chất rắn lơ lửng trên quy mô lớn nên thích hợp trong sản xuất chế phẩm sinh học.        
    Lên Men

    Lên Men

    26/07/2021 08:51:54
    1021
    Đại cương lên men Định nghĩa lên men Lên men là một phản ứng hóa học được thực hiện bởi vi sinh vật, nhờ quá trình này mà các phân tử carbohydrat như tinh bột hoặc glucose được phân cắt và phá hủy. Lên men có rất nhiều lợi ích cho sức khỏe con người và được sử dụng trong sản xuất các sản phẩm như nước uống có cồn, bánh mì, sữa chua, dưa chua, giấm táo… Nó cũng được sử dụng trong công nghiệp như sản xuất ethanol như một nguồn năng lượng sinh học. Ưu nhược điểm công nghệ lên men Ưu điểm: Sử dụng các vi sinh vật với kích thước nhỏ, tỉ lệ bề mặt trên thể tích lớn, do đó hấp thu dược chất rất nhanh. Các vi sinh vật có khả năng sinh trưởng mạnh chu kỳ ngắn do dó tốc độ đồng nhất hóa cao, sinh sản nhanh, nhanh sản xuất sản phẩm. Dễ thích nghi, do vi sinh vật dễ dàng tiếp nhận một vật liệu di truyền nào đó để thích nghi với điều kiện môi trường sống. Sản xuất ít phụ thuộc môi trường thời tiết. Tốn ít diện tích (chỉ cần một nồi lên men). Tận dụng được các phế phẩm và nguyên liệu nuôi cấy. Như các vi tảo có khả năng sử dụng các nguyên liệu từ dầu mỏ, khí CO2… Phát triển được ở nhiệt độ và áp suất thường. Có thể thực hiện được nhiều phản ứng hóa sinh khác nhau, do một vi sinh vật có chứa rất nhiều enzym. Như đã đề cập, các vi sinh vật rất dễ tiếp nhận các vật liệu di truyền mới, cũng như dễ dàng thực hiện các phương pháp biến đổi gen như đột biến, tái tổ hợp để tăng sản lượng hoặc biến đổi các sản phẩm cuối. Có khả năng tạo ra sản phẩm đối quang mong muốn và có hoạt tính- những sản phẩm này rất khó để thực hiện bằng các phản ứng hóa học. Điện hình là việc sản xuất các acid amin như glutamic, aspamat… Nhược điểm: Do dễ dàng thay đổi kiểu gen, nên các vi sinh vật này cũng rất dễ biến dị và hồi biến tính hoang dại. Có thể gây ra các độc tính cho người dùng. Quá trình sản xuất phức tạp và đòi hỏi độ vô trùng cao. Chỉ cần nhiễm một vi khuẩn hay một virus khác, nguy cơ hỏng quá trình lên men là rất cao do các tạp nhiễm, các độc tố mà vi sinh vật tạp nhiễm này gây ra. Cần tiến hành bảo quản và giữ giống trong thời gian dài, tăng chi phí. Các phương pháp lên men Theo điều kiện hô hấp Dựa vào đặc điểm hô hấp của vi sinh vật để chọn điều kiện nuôi cấy thích hợp: Lên men kị khí: áp dụng cho với các vi sinh vật kỵ khí (không tiếp xúc với O2); quá trình nuôi cấy này không cần cung cấp không khí cho vi khuẩn. Có thể thực hiện nên men trên môi trường lỏng hoặc bán rắn. Một số ví dụ của quá trình lên men kị khí như lên men rượu, lên men vitamin B12, muối dưa. Hình ảnh: Lên men rượu Lên men hiếu khí: áp dụng với vi sinh vật hiếu khí, quá trình nuôi cấy cần cung cấp không khí sạch có O2 để vi sinh vật hô hấp. Môi trường lên men có thể là lỏng hoặc bán rắn. Các sản phẩm được sản xuất từ lên men hiếu khí như dấm, mốc tương, sản xuất penicillin từ nấm mốc. Lên men vi hiếu khí: áp dụng đối với các vi sinh vật vi hiếu khí, cần cấp khí nhẹ trong quá trình lên men. Thực hiện nuôi cấy các vi sinh vật này trong môi trường lỏng. Ví dụ điển hình của quá trình này là sản xuất vitamin B12 (cần cấp khí giai đoạn sau để vi sinh vật có O2 tổng hợp sản phẩm). Theo hình thức thiết bị Dựa vào bề dày và thể chất của môi trường để phân loại: Lên men bề mặt dịch thể: áp dụng cho nuôi cấy các vi sinh vật hiếu khí, thực hiện ở môi trường lỏng, bề dày môi trường nuôi cấy mỏng, bề mặt tiếp xúc với không khí rộng. Trong quá trình nuôi cấy cần cấp khí vô trùng và làm mát. Ưu điểm: đơn giản, dễ tiến hành, khi có sự cố ở một vài thiết bị nuôi cấy có thể dễ dàng loại bỏ. Nhược điểm: Khó giữ được độ vô trùng do bề mặt thoáng của nó rất rộng, cấp khí trong quá trình nuôi cấy nên rất khó để kiểm soát. Khó cơ giới hóa và tự đồng hóa. Tốn diện tích do lên men bề mặt có bề mặt thoáng lớn và có bề dày môi trường nhỏ, nên cần không gian rộng để xếp các dụng cụ nuôi cấy này. Tốn nhân công do cơ giới hóa kém, nhiều bình nuôi cấy khác nhau nên cần nhiều nhân lực để kiểm soát và vận hành. Sản phẩm thu được không đồng nhất, do được nuôi cấy trên nhiều thiết bị khác nhau, khó kiểm soát được độ đồng đều về hàm lượng vi sinh vật, dinh dưỡng, không khí và sản phẩm tạo thành giữa các thiết bị. Lên men bề mặt rắn: áp dụng với các vi sinh vật hiếu khí. Môi trường nuôi cấy ở dạng lỏng hoặc bán rắn. Có thể sử dụng các chất dinh dưỡng không tan như tinh bột và sử dụng các chất làm tăng độ xốp từ các loại hạt, mảnh, phế liệu hữu cơ, bã mía. Trong quá trình nuôi cấy, trước tiên cần hồ hóa tinh bột (độ ẩm từ 60 đến 75%), bổ sung các chất dinh dưỡng, các chất khoáng và vi lượng… Bề mặt rắn có ưu điểm rẻ hơn bề mặt lỏng do các thành phần dinh dưỡng rẻ hơn, tận dụng được nhiều nguyên liệu phế thải. Trong quá trình nuôi cấy cần cung cấp không khí vô trùng như với lên men bề mặt dịch thể. Ưu điểm: Tiến hành đơn giản, có thể tiến hành nuôi cấy đồng thời nhiều vi sinh vật (khác biệt với dịch thể) (ví dụ lên men rượu, bột men rắc lên cơm là hỗn hợp nhiều vi sinh vật nuôi cấy, các vi sinh vật trong môi trường sẽ phân giải tinh bột để tạo thành các glucose, sau đó nấm men mới sử dụng để tạo ethanol. Dễ tiến hành sử lý cục bộ: trong cùng bình nuôi cấy hoặc giữa các bình. Do bề mặt rắn lên dễ dàng khu trú những vùng bị hỏng và loại đi không để chúng lan ra toàn bộ thiết bị. Nhược điểm: cũng giống như thiết bị lên men bề mặt dịch thể, phương pháp này khó giữ được độ vô trùng (do diện tích tiếp xúc rộng), khó cơ giới hóa tự động hóa và tốn diện tích nhân công. Ở dưới thiết bị nuôi cấy,  vi sinh vật khó hô hấp, ảnh hưởng đến nuôi cấy vi sinh vật hiếu khí do đó môi trường cần xốp và có bề dày thích hợp. Hiện nay có một số cá tiến được áp dụng như thiết bị nuôi cấy có thêm cánh đảo hoặc bị quay để tăng quá trình đảo trộn giúp vi sinh vật tiếp xúc với không khí và dinh dưỡng tốt hơn nhưng vẫn phải đảm bảo điều kiện vô trùng tốt. Lên men chìm: thực hiện nuôi cấy vi sinh vật trong môi trường lỏng, môi trường nuôi cấy dày. Chúng có thể áp dụng cho cả lên men vi sinh vật hiếu khí hoặc kỵ khí. Ưu điểm: Áp dụng được gần như mọi loại vi sinh vật. Với vi sinh vật hiếu khí tiến hành cấp khí vào môi trường lỏng (nhưng là từ dưới lên chứ không phải từ bề mặt như 2 phương pháp trên) còn vi sinh vật kỵ khí thì không cần. Tốn ít diện tích vi sinh vật chỉ cần nuôi cấy trong một thiết bị với thể : tích lớn, diện tích mặt thoáng nhỏ. Do chỉ cần một thiết bị, mặt thoáng nhỏ nên việc kiểm soát độ vô trùng tốt hơn, dễ dàng kiểm soát được toàn bộ quy trình. Dễ dàng kiểm soát bằng các máy móc và thiết bị, do đó ít cần sử dụng nhân lực hơn. Đảm bảo độ đồng nhất của sản phẩm, (do chúng cùng được thu từ một thiết bị). Nhược điểm: thiết bị đắt tiền, phức tạp, cần có cán bộ chuyên môn vận hành. Do là môi trường lỏng và chỉ có một thiết bị, nên nếu xảy ra sự cố như nhiễm khuẩn, vi sinh vật bị chết có thể sẽ làm hỏng cả lô sản phẩm. Các thiết bị sử dụng trong lên men bề mặt như bình nón (với quy mô phòng thí nghiệm) đến các bình fermentor trong quy mô công nghiệp. Hình ảnh: Thiết bị lên men Fermentor Theo cách tiến hành Tùy thuộc chế độ cung cấp nguyên liệu và thu sản phẩm mà có các phương pháp khác nhau. Lên men mẻ gián đoạn: phương pháp này tiến hành theo các lô, mẻ. Chỉ cung cấp dinh dưỡng trước nuôi cấy và thu sản phẩm ở cuối quy trình. Khi được nuôi cấy trong các điều kiện thích hợp như dinh dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, các vi sinh vật sẽ phát triển theo đúng chu kỳ gồm 5 giai đoạn từ tiềm tàng, nhân lên chậm, sinh trưởng mạnh (logarit), giai đoạn cân bằng và suy vong. Do hầu hết các thông số quy trình không thay đổi, nên phương pháp này rất thích hợp với các phẩm chuyển hóa bậc 2 (đồi hỏi điều kiện nghiêm ngặt và ổn định, nếu thay đổi điều kiện môi trường sẽ không tạo ra sản phẩm nữa). Ưu điểm: chi phí ban đầu thấp, dễ dàng nâng quy mô bằng các mô hình toán học. Có thể tiến hành sản xuất với quy mô lớn với nồi lên men trên 1000 lít). Nhược điểm: Hiệu suất thấp hơn các phương pháp khác, do vi sinh vật sẽ phát triển theo đúng chu kỳ sinh trưởng, sản phẩm chỉ thu trong một thời điểm nhất định. Không lý tưởng với các sản phẩm bậc 1 Có sản xuất theo các lô mẻ, nên nếu có thay đổi nhỏ về các thông số và môi trường nuôi cấy, sẽ rất khó để bảo đồng nhất giữa các mẻ. Cần tiến hành khử trùng ở môi mẻ, lô sản xuất, khử trùng nhiều lần như vậy sẽ khiến các bộ phận như cảm biến oxy, đo pH, nhiệt kế, áp suất thẩm thấu nhanh lão hóa, dẫn đến tăng chi phí sản xuất. Lên men bán liên tục: định kỳ bổ sung chất dinh dưỡng và thu sản phẩm không chứa tế bào hoặc thu sản phẩm cuối quy trình. Quy trình này được áp dụng trong sản xuất các sản phẩm cuối cùng hoặc các sản phẩm bậc 1. Việc bổ sung môi trường dinh dưỡng định kỳ gây thay đổi thể tích môi trường nuôi cấy, thay đổi các đặc điểm về nhiệt độ, dinh dưỡng nên không thích hợp với các sản phẩm bậc 2. Ưu điểm: Việc bổ sung dinh dưỡng giúp giảm độ nhớt môi trường nuôi cấy làm thuận tiện cho các quá trình chuyển khối và vi sinh vật hấp thu dinh dưỡng tốt hơn. Môi trường được pha loãng còn làm giảm ức chế của tế bào với các sản phẩm phụ hoặc bản thân sản phẩm chính của nó. Ví dụ, trong quá trình lên men rượu nấm men bị ức chế ethanol, do đó, chỉ một thời gian, khi nồng độ ethanol đã đạt quá mức làm nấm men không thể tiếp tục sản xuất ethanol được nữa dù môi trường nuôi cấy vẫn rất dồi dào, dẫn đến làm giảm hiệu suất quá trình. Còn trong lên men bán liên tục, môi trường được pha loãng bởi dinh dưỡng và thu sản phẩm định kỳ, giúp nấm men sản xuất ethanol một cách liên tục. Nhược điểm: Như đã nói ở trên, việc bổ sung sẽ làm không ổn định môi trường nuôi cấy cả về dinh dưỡng và sản phẩm. Do đó, cần tiến hành kiểm soát và lấy mẫu thường xuyên để kiểm tra nồng độ cơ chất và sản phẩm tạo thành. Việc cấp dinh dưỡng và thu sản phẩm định kỳ cũng làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn trong môi trường nuôi cấy, tăng rủi ro nhiễm khuẩn. Phương pháp lên men liên tục: Đặc điểm: quá trình này đặc trưng bởi một cân bằng động giữa việc cấp dinh dưỡng vào và thu sản phẩm một cách liên tục. Do đó, môi trường nuôi cấy có thể tích không thay đổi. Việc thay đổi này, cũng giống như lên men bán liên tục, gây ra các thay đổi sinh lý của vi sinh vật. Nhờ việc cung cấp dinh dưỡng và thu sản phẩm liên tục, vi sinh vật sẽ có khả năng kéo dài được pha cân bằng, điều này rất thuận lợi để thu được nhiều sản phẩm. Phương pháp này cũng chỉ cần tiến hành với những nồi lên men nhỏ quy mô dưới một 1000 Lit trong sản xuất công nghiệp. Ưu điểm: Như đã nói ở trên, phương pháp này kéo dài pha cân bằng, do đó tế bào lấu già hóa hơn. Trạng thái sinh lý của tế bào đồng nhất hơn lên men mẻ, tạo được sản lượng ổn định hơn. Do kéo dài được pha cân bằng, quá trình sản xuất sản phẩm sẽ được kéo dài hơn, do đó giảm được chi phí nhân lực và các khâu nhân giống. Ngoài ra, thiết bị lên men nhỏ hơn và sản phẩm thu dần dần nên giảm độ phức tạp cho quá tiệt trùng và thu sản phẩm. Do được tiến hành liên tục, dinh dưỡng và sản phẩm cũng như các điều kiện khác được giữ hằng định, nên tính đồng nhất của sản phẩm thu được sẽ đồng nhất hơn lên men nhiều lô mẻ. Lượng dinh dưỡng được sử dụng nhiều hơn (do kéo dài pha cân bằng), tổng lượng sản phẩm cũng thu được nhiều hơn giúp hiệu suất của quy trình tăng. Nhược điểm: Do liên tục được lấy ra và pha loãng bởi môi trường, nên sản phẩm thu được không phải là dạng đặc nhất Tương tự như lên men bán liên tục, việc cấp và thu sản phẩm giữa quá trình nuôi cấy làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn. Do đó, cần tăng kiểm soát quy trình dẫn đến tăng chi phí. Làm thay đổi sinh lý tế bào (kéo dài pha cân bằng), do đó cần tính toàn lại các thống số và chất lượng giữa các đợt lên men. Việc thu sản phẩm định kỳ cũng là một nguy cơ gây thất thoát giống và sinh khối. Quy trình này chưa được phổ biến trong công nghiệp và gây khó khăn khi năng cấp quy mô sản xuất. Thiết bị trong quá trình lên men Theo hình thức, thiết bị được chia thành thiết bị lên men bề mặt (dạng rắn hoặc lỏng) và thiết bị lên men chìm. Thiết bị lên men bề mặt dịch thể: thưởng sử dụng các lọ hở hoặc kín. Ưu điểm của nó là cấu tạo đơn giản, rẻ. Tuy nhiên, khả năng đảm bảo vô trùng kém, không đồng nhất lô mẻ và tốn diện tích. Penicillin trước đây được sản xuất nhờ thiết bị này. Thiết bị lên men bề mặt bán rắn: sử dụng các thiết bị dạng khay, thùng quay hoặc đĩa quay. Dạng khay: cũng tương tự như các chai lọ, nó cần nhiều diện tích. Trong môi trường nuôi cấy cần có thêm chất tạo xốp để vi sinh vật tiếp xúc oxy. Dạng thùng quay: là biến thể của dạng khay. Chuyển động quay mà môi trường được phân tán đồng đều, do đó vi sinh vật phát triển tốt hơn, tiếp xúc nhiều với dinh dưỡng và không khí. Trong thùng quay có thể lắp thêm các cánh đảo, để tăng khả năng đảo trộn. Các thùng quay còn ưu điểm là có thể xếp chồng các khay lên nhau giúp giảm diện tích môi trường nuôi cấy. Thiết bị lên men chìm: Với quy mô phòng thí nghiệm có thể sử dụng bình nón: Bình nón có ưu điểm là phần dưới có kích thước lớn hơn do đó dễ dàng cung cấp oxy cho vi sinh vật hô hấp, và khi lắc, oxy dễ dàng hòa tan vào môi trường. Hình ảnh: Bình nón Với quy mô công nghiệp sử dụng thiết bị fermentor: thiết bị này được làm từ thủy tinh và thép không gỉ do đó rất dễ vệ sinh và hạn chế được vi sinh vật bám vào gây tạp nhiễm. Thiết bị này có nhiều loại kích thước để phù hợp với từng quy mô nghiên cứu hay quá trình nhân giống (từ 5- 10 lít: thích hợp với phòng thí nghiệm; từ 50 đến 500 lít: thích hợp với quy mô pilot; và từ 1000 lít trở lên có khi đến hàng triệu lít…phù hợp với quy mô công nghiệp). Trong thiết bị này có bộ phận khuấy trộn, hệ phân tán khí vô trùng, hệ thống áo nước bên ngoài (duy trì nhiệt độ thích hợp cho vi sinh vật phát triển), hơi nước để tiệt trùng… nên rất thuận tiện cho quá trình nuôi cấy và kiểm soát trong quy trình. Các giai đoạn quá trình lên men Quá trình lên men gồm 3 giai đoạn chính là trước lên men, trong lên men và sau lên men. Trước lên men Cần thực hiện việc chuẩn bị giống, chuẩn bị môi trường dinh dưỡng, thiết bị; và tiến hành khử trùng. Chuẩn bị giống: giống phải đạt các tiêu chuẩn để tiến hành lên men. Việc này phải tùy vào mục đích sản xuất sản phẩm cuối như protein đơn bào, probiotic, acid amin, ….Nhưng chúng đều phải có nguồn gốc rõ ràng và phải được phân loại đến cấp chủng. Giữ giống: giống chưa nuôi cấy cần được giữ trong môi trường thạch, trong cát đất, hạt ngũ cốc, silicagel, đông khô… Các biện pháp này phải đảm bảo giữ được hoạt tính và không làm chết vi sinh vật. Giữ giống trong môi trường thạch Hoạt hóa giống: cần tiến hành kiểm tra độ thuần khiết và kiểm tra khả năng hồi biến tính hoang dại. Sau đó tiến hành kích thích tế bào vi sinh vật. Chú ý: không được sử dụng giống từ một nồi lên men đã kết thúc lên men để làm giống cho mẻ sản xuất tiếp theo do các vi sinh vật này đã già (đến pha suy tàn), khả năng sinh trưởng cũng như sinh sản phẩm là rất thấp. Môi trường dinh dưỡng: yêu cầu phải cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho nhu cầu sinh trưởng, phát triển và tạo sản phẩm của vi sinh vật. Về cơ bản, môi trường nuôi cấy gồm các thành phần như nguồn hydrocarbon, nguồn nitơ, nguồn phospho, vi lượng, vitamin và các chất kích thích sinh trưởng, dầu phá bọt và các tiền chất: Nguồn hydrocarbon: Đây là nguồn năng lượng lớn nhất cho vi sinh vật. Chúng tiêu thụ từ 10 đến 50% nguồn này trong chu kỳ sinh trưởng. Nguồn này gồm có 2 dạng là dạng tan được như glucose, saccarose…- các đường này vi sinh vật rất dễ đồng hóa và các dạng không tan như tinh bột (gồm ngô, lúa mì, gạo, sắn…)- vi sinh vật phải có amylase mới có thể tiêu hóa được. Ngoài ra còn có thể sử dụng một số nguồn khác như cellulose (từ rơm rạ, bã mía..) hoặc dầu mỏ như methan, parafin (từ C8 đến C18). Nguồn N2: ngoài cung cấp năng lượng, nguồn này còn cung cấp các nhóm amin cho acid amin, acid nucleotid cần thiết để vi sinh vật nhân lên và tạo sản phẩm. Các nguồn nitơ gồm có nguồn vô cơ như amoni, và muối nitrat và nguồn hữu cơ như acid amin trong bột đậu, bột ngô, cao nấm men, pepton và cao thịt. Ngoài ra trong cao ngô còn có thêm các chất kích thích sinh trưởng và các nguyên tố vi lượng, nên nguồn này được sử dụng rất phổ biến. Phospho: phospho là thành phần cấu tạo lên nhiều thành phần của tế bào như các acid nucleotid, các enzym. Cũng như nguồn nitơ, nguồn phospho có thể ở dạng hữu cơ hoặc vô cơ. Với các muối KH2PO4, K2HPO4 (vô cơ); bột đậu, ngô (nguồn hữu cơ)… Canxi: hay sử dụng là CaCO3, vì chúng còn có khả năng duy trì Ph môi trường do các acid béo của vi sinh vật tiết ra. Các nguyên tố vi lượng: bổ sung thêm các nguyên tố thiết yếu cho vi sinh vật phát triển như magie, đồng, mangan, kẽm…  Các nguồn này có thể được bổ sung từ các muối vô cơ hoặc chính từ các nguồn nguyên liệu hydrocarbon và nito hữu cơ. Vitamin và chất kích thích sinh trưởng: cần thiết cho các quá trình trao đổi chất và nhân lên của vi sinh vật. Các thành phần này có thể được bổ sung riêng lẻ hoặc từ các nguồn dinh dưỡng như cao ngô hoặc rỉ đường. Dầu phá bọt: được sử dụng để phá bọt sinh ra trong quá trình nuôi cấy (do khuấy trộn hoặc do cấp khí với vi sinh vật hiếu khí). Thường sử dụng dầu thực vật để phá, nguồn này cũng có thể trở thành nguồn dinh dưỡng cho vi sinh vật. Tuy nhiên, khi sử dụng với lượng quá lớn, nó có thể tạo thành nhũ tương và cản trở quá trình trao đổi khí hoặc dinh dưỡng của vi sinh vật. Tiền chất: một số sản phẩm tạo thành cần có thêm tiền chất để gắn vào sản phẩm của vi sinh vật. Ví dụ như trong sản xuất kháng sinh penicillin, cần bổ sung thêm các gốc R để tạo kháng sinh mong muốn, hoặc như tổng hợp vitamin B12, cần 5,6 DMB bổ sung vào công thức. Thông thường được sử dụng với nồng độ thấp (mcg/L) và trong những khoảng thời gian nhất định. Khử trùng: gồm khử trùng thiết bị, môi trường nuôi cấy, nước… Quá trình khử để tiệt khuẩn môi trường dinh dưỡng, với dung nhiệt nó còn giúp hồ hóa các thành phần tinh bột trong môi trường. Phương pháp tiệt khuẩn hay được áp dụng là nhiệt ẩm: với nhiệt độ 121 độ C trong 30 phút, ở áp suất 0.6 đến 1 atm. Chú ý: khi tiến hành khử trùng không khí, cần qua các hệ thống sử lý độ ẩm và tạp tiểu phân. Trong lên men Gồm 2 quá trình là nhân giống và lên men. Nhân giống: quá trình nhân giống làm tăng số lượng tế bào ở giai đoạn đoạn sinh trưởng (phát triển mạnh nhất), do đó chỉ nuôi trong một thời gian ngắn. Giai đoạn này, còn giúp vi sinh vật quen với môi trường nuôi cấy (thường là dịch thể trong lên men chìm). Khi tiến hành nhân giống, cần căn cứ vào thể tích thiết bị lên men, thể tích nồi nhân giống cuối thường bằng 10% so với thể tích tổng (có thể từ 5 đến 20%). Nếu tỉ lệ quá nhỏ, vi sinh vật sẽ khó quen với lượng dinh dưỡng quá lớn, không kịp để tiêu thụ hết dinh dưỡng đã đến pha suy tàn, làm hiệu suất giảm. Còn tỉ lệ quá cao, lượng dinh dưỡng không đủ, chưa kịp tạo sản phẩm đã hết dinh dưỡng. Để vi sinh vật quen với thiết bị lên men, quá trình nhân giống cuối cùng cần được tiến hành trong thiết bị có hình dạng tương tự thiết bị lên men. Lên men: đây là giai đoạn quan trọng nhất vì nó tạo ra sản phẩm và tăng sinh khối. Quá trình này tiến hành cung cấp không khí, chất dinh dưỡng, truyền nhiệt, chuyển khối và điều chỉnh các phản ứng sinh học thích hợp như bổ sung môi trường dinh dưỡng, điều chỉnh pH và phá bọt. Thời gian tiến hành giao động từ 24h đến 120 giờ tùy thuộc vào sản phẩm đích muốn thu hoạch. Hiệu suất của quá trình này sẽ phụ thuộc vào độ vô trùng, thành phần dinh dưỡng, pH, nhiệt độ, cấp khí, thời gian nuôi cấy, chất tiền thể. Quá trình khuấy trộn: Giúp ngăn cản sự kết tụ và sa lắng giữa các tế bào trong quá trình nuôi cấy, tăng tiếp xúc vi sinh vật với dinh dưỡng và không khí. Giảm tập trung cục bộ sản phẩm chính và sản phẩm phụ trong quá trình, làm ức chế việc sinh tổng hợp vi sinh vật. Cần chú đến tốc độ khuấy trộn trong quá trình. Khi khuấy trộn với tốc độ quá cao, các tế bào va đạp mạnh có thể gây vỡ, tổn thương hoặc tạo các hệ sợi, các pellet đặc chắc và nhỏ- pellet càng đặc, tiếp xúc đồng đều giữa các vi sinh vật với dinh dưỡng càng kém. Tuy nhiên, khi khuấy quá nhẹ, việc đồng đều oxy và chất dinh dưỡng khó đạt được. Quá trình cấp khí: quá trình đặc biệt quan trọng với vi sinh vật hiếu khí. Nhu cầu oxy là khác nhau giữa các vi sinh vật, lượng sinh khối trong nồi lên men, và dung tích thiết bị nuôi cấy. Tốc độ cấp khí được đo bằng thông số V/V/M hoặc g/l/h… Quá trình phá bọt: bọt sinh ra trong quá trình lên men do khuấy trộn và sục khí. Khí bọt này tạo ra lượng quá lớn có thể trào ra các đường ống và dễ dẫn đến tạp nhiễm và khó khăn khi vệ sinh bảo trì. Bọt sinh ra nhiều cũng cản trở việc tiếp xúc của các tế bào vi sinh vật với môi trường dinh dưỡng. Do đó cần tiến hành phá bọt trong lên men. Các phương pháp xử lý bọt như sử dụng các chất diện hoạt, các dầu thực vật, mỡ cá heo. Yêu cầu của các chất phá bọt này có khả năng nhanh chóng phân tán bọt, không gây độc được với vi sinh vật có tác dụng kéo dài và chỉ cần sử dụng với một lượng nhỏ là có tác dụng. Điều chỉnh pH: mỗi vi sinh vật chỉ phát triển trong một điều kiện pH nhất định, pH ảnh hưởng đến tỉ lệ các ion H+ và OH- trong môi trường mà các ion này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt lực của các enzym và chất keo trong tế bào (thành phần quan trọng đối với sự sống còn của vi sinh vật) do đó cần ổn định pH trong quá trình lên men. Các biện pháp ổn định pH thường dùng là các chất hệ đệm như đệm phosphat, đệm amoni hoặc các chất kiềm nhẹ như CaCO3. Hình ảnh: Bột CaCo3 Điều chỉnh nhiệt độ: cũng như pH các vi sinh vật cũng chỉ hoạt động và sinh trưởng trong khoảng nhiệt độ nhất định- do nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt độ của enzym. Đặc biệt trong quá trình lên men, các quá trình như khuấy trộn, sục khí hay sự hô hấp của vi sinh vật đều là quá trình tỏa nhiệt, làm thay đổi nhiệt độ môi trường nuôi cấy. Do đó, cần có các thiết bị để kiểm soát và điều khiển nhiệt độ thích hợp. Ngoài ra, trong quá trình lên men cũng thường xuyên tiến hành quá trình lấy mẫu để xác định pH môi trường, hàm lượng dinh dưỡng, độ vô trùng, hàm lượng sản phẩm, trạng thái của vi sinh vật. Từ đó, tiến hành các biện pháp giải quyết kịp thời và xác định được thời gian thu sản phẩm thích hợp. Quá trình thu sản phẩm Tùy thuộc sản phẩm ở trong nội bào hay ngoại bào mà tiến hành các thu sinh khối hay thu dịch lọc. Với sản phẩm nội bao ta tiến hành thu sinh khối còn ngoại bào thì thu dịch lọc. Một số sản phẩm còn tồn tại cả trong và ngoài tế bào, do đó cần thu toàn bộ khối sau lên men. Tiến hành tách sinh khối và dịch lên men: có thể sử dụng ly tâm hoặc lọc (lọc trống hay khung bản- ưu tiên sử dụng vì lọc được các dịch nhớt cao) và mới nhất là lọc tiếp tuyến. Quá trình này nên tiến hành ở nhiệt độ thấp khoảng 4 độ C để giữ được hoạt tính của tế bào cũng như các thành phần khác. Trong quá trình lọc, có thể sử dụng các chất trợ lọc là các chất có cấu trúc xốp, hấp phụ được các tế bào, trành để các tế bào này nến chặt trên bề mặt màng lọc và cản trở quá trình di chuyển của dịch. Với sản phẩm nội bào cần tiến hành tiếp quá trình phá hủy tế bào để giải phóng dược chất. Có thể sử dụng acid hoặc kiềm để phá hủy màng tế bào và giải phóng chất nội bào ra ngoài. Tiến hành lọc để thu được dịch nội bào. Chiết tách sản phẩm: dịch thu được sau lọc sẽ được chiết bằng dung môi hữu cơ, sử dụng các nhựa trao đổi ion hay nhựa hấp phụ để thu được sản phẩm. Có thể chuyển dạng muối hoặc dạng kết tủa thích hợp. Tinh chế: sản phẩm thô thu được sẽ tiếp tục tinh chế để loại tạp, tẩy màu, sau đó được kết tinh lại tạo sản phẩm.